NHỮNG THẮC MẮC VỀ THIÊN TÀI
Gặp gỡ nghệ sĩ piano điêu luyện
Evgeny Kissin
Andrew Solomon
Khi
Evgeny Kissin còn nhỏ, lúc đầu bà mẹ không muốn con mình trở thành nhạc sĩ.
“Tôi đã chứng kiến cuộc sống thời đó khó khăn đến nhường nào, và tôi không
thích nền giáo dục dành cho những đứa trẻ chuẩn bị cho những sự nghiệp lớn
lao,” bà nói. “Chúng phải vật lộn khổ sở trong những ngôi trường đặc biệt đó rồi
đánh mất tuổi thơ. Tôi rất lo cho đứa con tinh thần nhỏ bé này.”
Anna
Pavlovna Kantor, một giáo viên piano nổi tiếng tại Trường Chuyên nhạc Gnessin
danh tiếng dành cho trẻ em năng khiếu ở Moscow, đã rất kinh ngạc khi gặp thần đồng
này. "Một phụ nữ, bị một người bạn ép đến gặp tôi, đi cùng cậu con trai nhỏ
có mái tóc xoăn tít như một thiên thần", bà nhớ lại. “Cậu bé mở đôi mắt
sâu thẳm và tôi thấy một tia sáng trong đó rồi tôi nắm tay cậu dẫn vào trong.
Tôi rất ngạc nhiên về cậu bé này không
chỉ vì đôi tai của cậu, bọn trẻ có năng khiếu có thính giác rất tốt, mà còn vì cách cậu sử dụng chúng. Khi đến bản Rhapsody
thứ mười hai của Liszt, cậu đã dùng cả hai tay để chơi những quãng tám mà đôi
tay nhỏ bé của cậu không thể với tới. Và cậu còn có trí tưởng tượng thật tuyệt
vời nữa, một cảm giác thật siêu thực! Tôi yêu cầu cậu chuyển một câu chuyện
thành nhạc. Tôi nói rằng chúng tôi đang đi vào một khu rừng tối tăm đầy thú dữ
rất đáng sợ, nhưng rồi qua mỗi bước mặt
trời mọc dần lên, và những chú chim bắt đầu hót. Và cậu bắt đầu câu chuyện ở âm
khu trầm, một nơi tối tăm và nguy hiểm, rồi mỗi lúc một nhẹ thêm và những chú
chim thức giấc, những tia nắng đầu tiên léo lên và cuối cùng là một giai điệu
thú vị, gần như ngây ngất.
Tôi không
muốn dạy cậu. Tôi sợ, vì tôi biết mình sẽ phải dạy tất cả những điều cơ bản,
các nốt nhạc, cách đếm dấu lặng. Tôi nghĩ cậu sẽ chán, sẽ mất đi sự tươi trẻ đầy
hứng thú này. Trí tưởng tượng như thế thường rất mong manh. Nhưng bà mẹ nói với
tôi: "Người bảo trợ tài giỏi và trung thành ơi, xin đừng lo, cháu luôn
thích thú với mọi điều mới mẻ, ta hãy thử
xem." Mọi chuyện bắt đầu như vậy rồi từ đó chúng tôi đã ở bên nhau.”
Anna Kantor vẫn là cố vấn không thể thiếu cho thần đồng âm nhạc của thời đại chúng ta, một trợ thủ tài tình và tận tụy cho sự nghiệp đã phát triển vượt xa mọi kỳ vọng ban đầu của bà. Ở tuổi hai mươi bốn, Evgeny Kissin đã có hơn hai mươi đĩa CD được phát hành, nhiều đĩa trong số đó là những đĩa bán chạy nhất; các buổi hòa nhạc của anh tại các khán phòng lớn trên thế giới - dù ở New York, Tokyo, Milan hay Buenos Aires - thường hết vé trước nhiều tháng. Kissin đã gìn giữ được truyền thống trình diễn piano điêu luyện vượt trội, tưởng như đã không còn sau sự ra đi của Arthur Rubinstein, Vladimir Horowitz, và năm ngoái là Arturo Benedetti Michelangeli (người khổng lồ cuối cùng còn sống của thế hệ tiền bối là Sviatoslav Richter tám mốt tuổi.)
Những màn trình diễn của Kissin không phải
là những màn diễn tấu được thai nghén một cách lý trí như hầu hết các nghệ sĩ
hiện đại, mà là những quang cảnh cảm hứng tráng lệ hiển hiện ngay trước mắt
khán giả. Những hình thái của thiên tài luôn xa lạ với chúng ta, và thiên tài
âm nhạc - thứ có thể nảy nở đột ngột ngay từ thuở ấu thơ - là bí ẩn hơn cả. Trong
định nghĩa nền tảng về thiên tài, Kant đã nói: “Nếu một tác giả có được sản phẩm
nhờ vào thiên tài của mình, bản thân anh ta cũng không biết làm cách nào mình
có được những ý tưởng đó; anh ta cũng không có khả năng tạo ra những sản phẩm
như vậy theo ý muốn, hay bằng cách tuân theo một kế hoạch nào đó, hoặc truyền đạt
[phương pháp] của mình cho người khác bằng những công thức để họ có thể tạo ra
những sản phẩm tương tự.” Quan sát Kissin biểu diễn, người ta thấy một người dường
như đang bị âm nhạc đoạt hồn theo đúng nghĩa đen.
Tuy
Kissin có thể nói về âm nhạc một cách rõ ràng theo kiểu trí tuệ nhưng anh lại
không thể diễn đạt bằng lời về cách thức anh đã đạt được trong phong cách chơi
piano của mình rõ hơn con báo giải thích về cách nó có nhưng đốm trên mình.
"Anh chọn những bản encore của mình như thế nào?" Tôi hỏi anh khi
chúng tôi gặp nhau lần đầu ở London vào một ngày đầu xuân sau buổi độc diễn.
"Chúng tự đến với tôi," anh trả lời. "Anh nhận định cảm nhận của
khán giả theo kiểu gì?" "Tôi cảm thấy có gì đó trong không khí."
"Dựa vào đâu để anh khẳng định mình đã sẵn sàng cho một tác phẩm?"
"Điều này luôn rất rõ ràng với tôi." "Dựa vào đâu để anh quyết định
tham gia một buổi hòa nhạc?" "Tôi tham gia những buổi mà tôi thấy quan
tâm." Phỏng vấn các vị thánh buổi sơ khai chắc hẳn cũng tương tự thế này.
Evgeny
Kissin quá cao và quá gầy với cái đầu to khác thường và mái tóc bù xù như thiên
tài Einstein. Đó là kiểu tóc mà bạn có thể làm hỏng bất cứ gì và đó là đặc điểm
ngoại hình nổi bật của anh. Anh có đôi mắt nâu to và làn da nhợt nhạt, và nhìn
chung, tổng thể đó bị cường điệu hóa thành ra trông anh cứ lêu nghêu mất cân đối
một cách vụng về. Anh có vẻ nhút nhát và nghiêm trang, nhưng khi có cảm hứng âm
nhạc, dường như anh tự hoàn chỉnh sự mất cân đối của mình để toát lên vẻ thiên
thần lay động lòng người và đôi khi đẹp một cách kỳ lạ. Người ta đã mô tả anh cho
tôi như một "đứa trẻ mặt trăng" - kỳ lạ, khó hiểu, khép kín, không thể
hiểu nổi - và ngay lần gặp đầu tiên, tôi cảm thấy dường như chúng tôi đang nói
chuyện qua một bức tường kín bưng. Khi chúng tôi bắt đầu thảo luận về bài viết
này, tôi nói với anh rằng tôi muốn lên kế hoạch cho ít nhất ba hoặc bốn cuộc gặp
thì anh có vẻ rất bối rối, "Nhưng chúng ta sẽ nói về chuyện quái gì
đây?"
Evgeny Igorevich Kissin sinh ngày 10 tháng 10 năm 1971
tại Moscow. Bà mẹ Emilia là giáo viên piano cho trẻ em địa phương; ông bố Igor là một kỹ sư chăm chỉ; chị gái Alla hơn
anh mười tuổi đang học piano và sẽ trở thành một nghệ sĩ piano tài năng. Họ sống
trong một căn hộ chật chội, cuộc sống của giới trí thức Do thái Liên Xô: không
thoải mái về vật chất và không ngớt bất mãn, chỉ có những thú vui trí tuệ để bù
đắp cho những thiếu thốn tầm thường về vật chất và sự xâm phạm của hệ tư tưởng
về tinh thần. Họ là một gia đình sôi nổi nhưng rõ ràng không phải là một gia
đình nổi bật. Họ hiểu rằng cô gái sẽ chơi piano như bà mẹ và cậu em sẽ là một kỹ
sư như ông bố. Tuy nhiên, Genya bé nhỏ đã bộc lộ những năng khiếu khác thường từ
rất sớm, không phải là năng khiếu kỹ thuật. Mới mười một tháng tuổi, cậu bé đã
hát trọn một bản fugue của Bach khi nghe chị gái tập. Cậu bé bắt đầu hát lại
ngay mọi thứ mình nghe thấy: bất cứ gì chị và học trò của mẹ cậu đang tập, bất
cứ gì phát trên radio. "Kể từ những khoảnh khắc đó", bà mẹ nhớ lại,
"âm nhạc không bao giờ rời khỏi nhà chúng tôi. Thằng bé luôn cất tiếng hát
ngay sau khi mở mắt vào buổi sáng rồi hát suốt cả ngày. Thật ngại khi cho thằng
bé ra ngoài đường phố ở Moscow. Cháu sẽ hát mọi lúc mọi nơi với giọng hát trẻ thơ rất trong trẻo của mình làm
mọi người sẽ dừng lại nhìn chằm chằm, đôi khi thành một nhóm nhỏ đứng quanh. Ban
đầu chỉ là chuyện buồn cười, nhưng khi cứ tiếp diễn thì lại thành khá kỳ lạ:
liên tục không ngơi nghỉ, không tạm dừng khiến tôi đâm sợ hãi."
Khi được
hai mươi sáu tháng, Genya ngồi xuống bên cây đàn Bechstein cũ kỹ của mẹ rồi
dùng một ngón tay mổ vài giai điệu mà cậu đã hát. Ngày hôm sau, cậu lại làm như
thế nhưng sang ngày thứ ba thì cậu chơi bằng cả hai tay với tất cả các ngón. Sau
năm đó, cậu trở nên có chủ ý hơn. Cậu nghe đĩa nhựa và ngay lập tức chơi lại một
bản nhạc vừa nghe và khá giống đến kinh ngạc. Bà mẹ kể, "Đôi tay nhỏ bé của
cháu chơi các ballad của Chopin cũng như những sonata của Beethoven hay
rhapsody của Liszt. Và cả những ca khúc, cả ca khúc thiếu nhi và người lớn, cháu
cũng cố chơi những bản giao hưởng." Mùa đông năm đó, cậu đến dự tiệc sinh
nhật một bé gái tròn hai tuổi. Hoảng sợ trước những người lạ, cậu lùi lại và rúc
mặt vào váy của mẹ. Nhưng khi nghe mẹ thì thầm:"Genya, có một cây đàn
piano ở đằng kia" thì cậu đi thẳng đến cây đàn và giải trí cho bọn trẻ suốt
tối hôm đó.
Khi lên
ba, Kissin bắt đầu ứng tác nhạc của mình. "Không may là chẳng ai ghi lại,
và những khúc nhạc đó biến mất ngay lập tức", anh kể với tôi. "Tôi đặc
biệt thích khắc họa những người tôi quen biết bằng âm nhạc. Tôi thường đòi cả
nhà đoán ai trong mỗi khúc nhạc đó. Thường thì mọi người đều trả lời đúng. Tôi không biết bằng cách
nào, nhưng tôi có thể nắm bắt được bất kỳ hình thức âm nhạc nào, và tôi đã sáng
tác các sonata, rondo, mazurka — bất cứ gì tôi nghĩ ra." Khi lên sáu,
Kissin đã được Anna Pavlovna Kantor nhận làm học trò.
Điều hầu
hết các học sinh năng khiếu phải mất năm bài học mới học được thì cậu bé Kissin
lại chỉ cần một bài. Cậu đọc nhạc rất nhanh và chẳng mấy chốc đã có thể thị tấu
được mọi bản nhạc được đặt trước mặt. Hầu như bất cứ bản nhạc nào cậu chỉ cần chơi
một lần là thuộc lòng, mặc dù cậu có nói rằng cậu chưa bao giờ cố gắng ghi nhớ.
Anna Pavlovna hết sức che chở cậu trò nhỏ. "Thành công lớn nhất là bà đã
giữ gìn được năng khiếu của thằng bé ", bà mẹ của Genya giải thích.
"Bản thân tôi cũng là một giáo viên nên tôi hiểu điều này. Tôi biết ơn
Anna Pavlovna suốt đời vì những gì bà đã làm. Bà hiểu cách bổ sung cho những gì
đã có mà không thay thế nó. Với tư cách là một người mẹ, tôi đã cố hết sức để
con mình được yên, không can thiệp vào sự phát triển của thằng bé."
Khi lớn
lên, Kissin ngừng ứng tác trên phím đàn và bắt đầu sáng tác. Câu hay bị ốm – mỗi
mùa đông thời thơ ấu cậu đều bị viêm phổi - và khi nằm trên giường, cậu sẽ viết
nhạc cả ngày. Tất cả các tác phẩm của cậu đều đề "tặng cho cô giáo thân
yêu của con, Anna Pavlovna". Kissin không bao giờ học sáng tác: "Tôi
sợ rằng khi học và làm bài tập, cảm hứng của cậu có thể bị mất đi," Anna
Pavlovna nói. Vài năm sau, cậu không sáng tác nữa. "Tôi đã viết thử nhiều
phong cách, từ Baroque đến Cổ điển đến Lãng mạn", anh kể, "rồi tôi
không còn gì để nói nữa. Ngày càng tham gia nhiều hơn vào các buổi hòa nhạc và
tôi đã dành năng lượng sáng tạo của mình vào đó."
Ngay từ đầu,
cây piano đã là sự giải phóng của anh. “Trong những năm đầu đi học, mỗi khi ở
trường về, tôi thường không cởi áo khoác mà đến ngay bên cây đàn piano và chơi
một lúc,” anh kể. “Tôi đã nói với mẹ rằng đây chính là điều tôi cần.” Những buổi
công diễn đầu tiên của anh trước giáo viên và bạn học, thường bao gồm các tác
phẩm do chính anh sáng tác. Anh đã có buổi độc diễn đầu tiên vào tháng 5 năm
1983 khi mới 11 tuổi. “Tôi có cảm giác nhẹ nhõm vô cùng,” anh nhớ lại. “Trong khi
nghỉ giải lao, tôi nóng lòng được trở lại sân khấu. Cô giáo đã nói rằng có sự hồi
hộp tốt và sự hồi hộp xấu. Nếu bạn chuẩn bị chưa đủ, đó sẽ là hồi hộp xấu.
Nhưng tôi nghĩ tôi chỉ cảm thấy phấn khích và vui sướng.”
Sau buổi
hòa nhạc, một người bạn của Anna Pavlovna, vợ giám đốc Nhà Sáng tác nhạc, đã
chúc mừng hai cô trò. "Em chơi hay
quá", bà nói. "Tôi sẽ nói chuyện với ông chồng và chúng tôi sẽ mời em
đến biểu diễn tại Nhà Sáng tác nhạc ". Đây là một vinh dự lớn, một cánh cổng
dẫn đến danh vọng và no ấm trong thời Xô Viết thiếu thốn. Tuy nhiên, Anna
Pavlovna lại cảm thấy lo lắng. "Cô biết đấy", bà đáp, "cậu ta
còn quá trẻ không nên chơi nhạc quá nhiều, không nên chịu áp lực vì bị phơi
sáng quá mức". Đột nhiên, một người lạ mặt đứng gần đó ngắt lời họ. “Xin lỗi,”
ông nói, “nhưng tôi vô tình nghe lỏm được câu chuyện của hai người. Tôi là bác
sĩ, và tôi vừa có vinh hạnh được dự khán buổi hòa nhạc này. Tôi vừa nghe bà nói
rằng việc cậu bé biểu diễn trước công chúng quá thường xuyên là không tốt, và
dĩ nhiên, theo một cách nào đó thì đúng. Nhưng vài phút trước, khi tôi thấy cậu
bé trở lại sân khấu với tâm trạng hào hứng như thế nào để biểu diễn thêm, tôi
nhận ra rằng việc để cậu bé bị quá tải bên trong sẽ còn nguy hiểm hơn. Cậu bé cần
phải được biểu diễn.” Ông quay sang Anna Pavlovna và nói, “Thưa bà, bà yêu cậu
bé, điều đó dễ dàng nhận thấy, vì vậy bà phải tìm ra sự cân bằng phù hợp, không
thúc ép cậu bé, nhưng cũng không để cậu bé để lãng phí bản thân.”
Kissin được
nuôi dưỡng trong truyền thống piano Nga bắt nguồn từ phong cách hoành tráng của
nhà soạn nhạc-nghệ sĩ piano huyền thoại thế kỷ XIX Anton Rubinstein. Josef
Hofmann, một học trò củaRubinstein, đã nói về thầy mình:"Tất cả những gì
ông làm đều theo bản năng, tất nhiên, như thế vượt trội hơn nhiều so với làm
theo quy tắc hoặc chỉ dẫn vì nó quan trọng." Sự nhấn mạnh trong lối chơi
bùng nổ của Rubinstein là sự tự do của trí tưởng tượng và cảm xúc, với xu hướng
theo đuổi những hiệu ứng hoành tráng có thể phải đánh đổi bằng sự chính xác. (chính
Kissin lại là một nghệ sĩ biểu diễn gần như không sai một nốt nhạc nào.) Kissin
là người mới nhất trong dòng"siêu nhân" của đàn phím Nga - một dòng
nghệ sĩ bao gồm Sergei Rachmaninoff, Josef Lhévinne, Vladimir Horowitz, Emil
Gilels, Sviatoslav Richter và Lazar Berman, và đặc điểm nổi bật của dòng nghệ
sĩ này là niềm tin rằng trí tưởng tượng và tinh thần của người biểu diễn phải
ngang bằng nhà soạn nhạc. Buổi ra mắt của Kissin tại Nhà Sáng tác nhạc vào ngày
23 tháng 6 năm 1983 thật lạ lùng. Nghệ sĩ piano lỗi lạc Dmitry Bashkirov có mặt
ở đó và ông ngay lập tức nhận ra đây là một tài năng xuất chúng. Bashkirov đã thu
xếp cho Kissin biểu diễn cùng Dàn nhạc Giao hưởng Leningrad vào tháng 11. Hai
tháng sau, vào tháng 1, nhạc trưởng kiêm nghệ sĩ piano Daniel Barenboim đến
thăm Moscow, và Bashkirov đã mời thần đồng biểu diễn cho vị khách nghe. Rồi
Barenboim đã trở về phương Tây mang theo tin về một cậu bé phi thường ở Moscow,
và huyền thoại về Evgeny Kissin bắt đầu.
Ngày 27
tháng 3 năm 1984, Kissin chưa đầy mười ba tuổi đã xuất hiện cùng dàn nhạc Philharmonic
Moscow dưới đũa chỉ huy của Dmitri Kitaenko và chơi hai bản Piano concerto của
F. Chopin. Tinh hoa của giới âm nhạc Nga đều có mặt ở đó. Những bức ảnh chụp tại
sự kiện đó cho thấy một cậu bé nhỏ nhắn với nụ cười ngọt ngào và mái tóc xoăn
dày; cậu mặc trang phục Thiếu niên Tiền phong với khăn tay đỏ quấn quanh cổ được
khóa bằng huy hiệu Lenin. Biểu diễn âm nhạc được hưởng một ưu tiên đặc biệt
trong các loại hình nghệ thuật ở Liên Xô vì bản chất trừu tượng đã giúp nó
không bao giờ bị nghi ngờ về mặt ý thức hệ. Điện Kremlin trong thời hậu Stalin
vô cùng tự hào về các nhạc sĩ Liên Xô - những người phục vụ cùng một nhiệm vụ
chính trị như các ngôi sao thể thao, diễn viên ba lê và phi hành gia - và vườn
ươm mầm piano của Liên Xô trong những năm sáu mươi, bảy mươi và đầu những năm
tám mươi là nhằm giành những chiến thắng tầm Thế vận hội. Nhưng Anna Pavlovna
đã giữ Kissin tránh xa các cuộc thi mà hầu hết các nghệ sĩ biểu diễn đều chứng
tỏ mình bằng sự phô trương sức mạnh. Bản thu âm buổi hòa nhạc năm 1984 đã được
phát hành tại Liên Xô gần như ngay lập tức và vẫn còn được phát hành ở phương
Tây. Nó mang lại cảm giác ngây thơ, không cầu kỳ, và vô cùng tươi vui. Dù thiếu
một số nét hoành tráng của hai bản concerto nhưng phần trình diễn lại vô cùng mạch
lạc và đẹp đẽ về giai điệu rất phù hợp với định nghĩa của Leonard Bernstein về
nghệ thuật đích thực - "mới mẻ nhưng vẫn thân thuộc".
Khi
Kissin bắt đầu đi lưu diễn và tiếp tục bị viêm phổi, lịch học của cậu ngày càng
bất thường. Anna Pavlovna đã thương lượng với chính quyền để có một "chế độ
học tự do": cậu được học kèm ("Các môn phổ thông", anh kể,
"lịch sử, văn học, toán học, chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa
Lenin, khoa học quân sự, v.v…" và dành rất ít thời gian trên lớp). Cậu
chưa bao giờ kết nối đặc biệt với các bạn cùng trang lứa và cậu có rất ít bạn
cùng tuổi: một số người ghen tị, những người khác hoang mang về cậu, và việc
thoát khỏi trường học phổ thông là một sự giải thoát. Kissin và Anna Pavlovna
đã trở nên không thể tách rời, và khi cậu được nhận vào Học viện Gnessin, chính
quyền đã đặc ân cho phép bà dạy cậu theo chế độ đặc biệt đó. Cậu không có bất kỳ
giáo viên nào khác. Tháng 5 năm 1985, Kissin rời Liên Xô lần đầu tiên và biểu
diễn tại một buổi dạ hội ở Đông Berlin có sự tham dự của Tổng thống Đông Đức
Erich Honecker. "Có một số nghệ sĩ xiếc," anh nhớ lại, "sau đó
tôi chơi nhạc của Schumann và Chopin rồi một nhà ảo thuật bước ra biểu diễn."
Tháng 10 năm 1986, anh đến Nhật Bản; tháng 1 năm 1987, anh ra mắt ở Tây Âu chơi
cùng Dàn nhạc Đài phát thanh Berlin. Ngày 30 tháng 9 năm 1990, anh ra mắt ở
Carnegie Hall với chương trình gồm Schumann, Prokofiev, Liszt và Chopin. Phản ứng
thật là tuyệt vời. Hàng trăm khán giả đã chờ ngoài cửa sân khấu của Carnegie để
xin chữ ký và các nhà phê bình đồng loạt đăng bài khen ngợi.
Năm 1991,
gia đình Kissin mời bà Anna Pavlovna về sống cùng. Cuối năm đó, nhà Kissin rời
Moscow đến New York để thuận lợi hơn cho sự nghiệp quốc tế đang phát triển của
Genya. Tại New York, khả năng tiếng Anh của Genya tiến bộ nhanh chóng và là người
nói tiếng Anh lưu loát nhất nhà. Sống tại một căn hộ trong một tòa nhà hiện đại
ở khu Upper West Side của Manhattan, anh thấy sự kết hợp giữa thuật tiện và hỗn
loạn giống Moscow của New York rất dễ chịu. Anh là một người ham đọc sách - anh
thích thơ Nga và tiểu sử âm nhạc - nhưng hầu hết thời gian không biểu diễn của
anh đều dành cho âm nhạc và việc quản lý cuộc sống chuyên nghiệp của mình. Trên
cương vị người đại diện người Mỹ đầu tiên của Kissin, Charles Hamlen đã giám
sát buổi ra mắt của nghệ sĩ tại Carnegie
Hall. Cũng là một người bạn thân của nghệ sĩ anh cho biết: "Cuộc sống hàng
ngày của Genya hoàn toàn tập trung vào mục tiêu anh là ai trên tư cách là một
nghệ sĩ". "Hầu hết thời gian anh ấy đều tập luyện, biểu diễn, thu âm,
hoặc xử lý những chi tiết nhỏ nhặt trong sự nghiệp. Có một sự thống nhất tiềm ẩn
giữa cuộc sống nghệ thuật và đời tư của anh, và việc không phân biệt rạch ròi
giữa chúng có lẽ là nền tảng cho bản sắc của anh ấy." Dù nhiều quản lý đều
thúc giục nhưng Kissin vẫn kiên quyết không thuê trợ lý riêng. Anh tự phân loại
cả đống fax và tin nhắn điện thoại mỗi ngày, thảo luận với gia đình mình rồi ra
quyết định. Anh quyết định hầu hết các tác phẩm sẽ biểu diễn cũng như địa điểm
và thời gian biểu diễn. Anh thường liên lạc trực tiếp với các nhạc trưởng mà
anh muốn làm việc cùng. Edna Landau là quản lý của anh từ International
Management Group, một công ty có danh sách khách hàng là những người nổi tiếng
trong cả lĩnh vực thể thao lẫn âm nhạc, cho biết: "Vấn đề duy nhất khi làm
quản lý cho Genya là anh quá bận rộn nên không thể thực hiện được một phần nhỏ nhưng
việc anh được đề nghị."
Gia đình
của Kissin vẫn là trung tâm của đời sống xã hội của anh và ngoài công việc anh chủ
yếu ở bên gia đình và bạn bè âm nhạc, nhiều người trong số họ nói tiếng Nga. Với
hơn hai phần ba thời gian trong năm để lưu diễn, Kissin đã thực hiện khoảng năm
mươi buổi biểu diễn. Anh thường đi cùng mẹ và Anna Pavlovna. Thỉnh thoảng, ông
bố đã nghỉ hưu và chị gái, người hiện chỉ chơi đàn cho bạn bè, cũng đi
cùng."Có họ những chuyến đi là một sự giúp đỡ," Genya nói,
"nhưng đó cũng là niềm vui vì có người đồng hành." Anna Pavlovna gật
đầu nghiêm nghị. "Trong phần lớn cuộc đời của chúng tôi sống ở Liên Xô và
chúng tôi không thấy gì. Những ngày chúng tôi đưa Genya Kissin đi cùng đã qua, giờ
là lúc Genya đưa chúng tôi đi, và chúng tôi rất biết ơn." Giờ đây, Emilia Aronovna và Anna Pavlovna hiếm
khi rời nhau. Họ cùng nhau đi chợ, mua sắm ở Manhattan, trò chuyện về văn học
piano, về những chú gà trông tươi ngon ra sao, và về lịch trình của Genya trong
một cuộc trò chuyện liên tục. Một nhà phê bình nhớ lại lần gặp nghệ sĩ ngay sau
buổi ra mắt tại Carnegie Hall: Kissin chỉ vào mẹ mình:"Đây, là giáo viên của
tôi" rồi anh quay sang Anna Pavlovna"Còn đây là mẹ tôi", rồi anh
đỏ mặt và tự sửa lại. Bà mẹ và bà giáo của Genya luôn tôn trọng nhau và tình cảm
của họ đã có hai mươi năm để bền chặt. Ở tuổi bảy mươi, bà giáo của Kissin pha
trộn sự nghiêm túc khắc khổ với sự nhiệt tình lấp lánh. Bà yêu Genya như bà mẹ
nhưng người ta cảm thấy khó có được tình yêu của bà hơn. Bà có vóc dáng rắn chắc,
vuông vức như một bức tượng của Maillol và cặp mắt sắc sảo. Là một nhà giáo, bà
đã tập thói quen không bao giờ chạm vào bàn phím mà dạy bằng lời nói với một sức
biểu cảm vượt xa ý nghĩa cụ thể của lời nói.
Anna
Pavlovna và bà mẹ của Genya vẫn luôn bên nhau trong việc lên chương trình, thảo
luận về việc nên chơi bao nhiêu và thu âm bao nhiêu. Mỗi khi đến một khán phòng
mới, Genya đều chạy chương trình của mình. Anna Pavlovna ngồi một chỗ để đánh
giá màn trình diễn, còn Emilia Aronovna đi quanh khán phòng để kiểm tra âm học
và độ méo âm. Bốn cuộc đời - cha, chị , mẹ, thầy - đã được trao cho thiên tài của
Kissin và khả năng kiếm tiền khổng lồ của anh. (Phí hòa nhạc của anh thuộc loại
cao nhất, trung bình 25.000 đô la cho một buổi biểu diễn.) Dường như Kissin
hoàn toàn thoải mái với cuộc sống của một nghệ sĩ bậc thầy quốc tế. Một ngày nọ
anh nói với tôi: "Đôi khi tôi hối tiếc vì đã định sẵn đường đời mình quá sớm.
Nhưng có cách nào cưỡng lại được đâu. Chẳng có cách nào để thay đổi con người
tôi. Đôi khi tôi ước - ước mọi thứ khác đi. Tôi ước mình có nhiều thời gian hơn
để trưởng thành, trong một môi trường khác, không áp lực. Nhưng dù sự nghiệp có
bắt đầu muộn hơn, âm nhạc vẫn luôn là điều duy nhất quan trọng với tôi. Tôi sẽ
không bao giờ thay đổi.”
Vào những
tối rảnh, Kissin thường đi dự hòa nhạc, opera và ballet, chủ yếu là để xem hoặc
nghe những nghệ sĩ bạn bè. Anh có những người bạn và thỉnh thoảng cùng chơi nhạc
thính phòng. Đôi khi anh cũng tiêu khiển bằng cách chơi nhạc ragtime nhưng anh
chưa từng biểu diễn thể loại nhạc này trước công chúng. Khi chúng tôi đến dự một
bữa tiệc ở New York do một người bạn chung tổ chức, anh tỏ ra khiêm tốn bặt thiệp
và gần như không hề khách sáo khi những vị khách đến khen ngợi tài năng của
anh. Gần đây, báo chí đã đưa ra những lời khuyên rằng anh nên thoát khỏi vòng
tay che chở của gia đình, rằng anh nên trở thành một chàng trai Mỹ đích thực. (Ba
mươi năm trước những lời khuyên tương tự cũng từng được đưa ra cho Van Cliburn,
người có mẹ là một nhân tố quan trọng trong sự nghiệp của mình.) Kissin tỏ ra bực
tức những lời bàn tán như vậy. "Tôi không hiểu tại sao mọi người ở đây lại
muốn phá hoại mối quan hệ của tôi với gia đình đến vậy", anh nói trong một
cuộc phỏng vấn ngay sau khi đến đất nước này. Kissin không thể sống một cuộc sống
"bình thường" hơn Hoàng tử William, và việc không cố gắng là một phần
phẩm giá của anh. Anh có hàng chục cô gái trẻ ngưỡng mộ, nhưng anh nói rằng
"Tôi vẫn chưa gặp được ai làm tôi muốn gắn bó cả đời."
Trước
đây, người ta thường cho rằng thần đồng là ngoại lệ của quy luật phát triển -
những nguồn tài năng hoàn toàn khác biệt so với những đứa trẻ khác. Tuy nhiên,
ngày càng nhiều nhà tâm lý học trẻ em coi thần đồng là những cá nhân có tốc độ
phát triển trong một lĩnh vực duy nhất có gia tốc lớn nhưng quá trình phát triển
của các cháu này không bất thường. Một số nhà nghiên cứu cho rằng yếu tố âm nhạc
bẩm sinh xảy ra ở những đứa trẻ quá nhạy cảm với âm thanh, những đứa trẻ bị
thôi thúc sắp xếp tiếng ồn xung quanh mình để giảm bớt sự khó chịu đi. Theo bác
sĩ tâm thần người Israel Pinchas Noy, “Cái tôi… buộc phải đạt được những khả
năng đáng kể để tự bảo vệ mình… [Nó] phát triển khả năng vượt trội trong việc sắp
xếp các kích thích thính giác, phân biệt các sắc thái khác nhau của chúng, và đặc
biệt là biến đổi các kích thích “chát ngắt” để [chúng có thể mang lại] sự hài
lòng và niềm vui… Nghe nhạc [trở thành] một hoạt động của cái tôi nhằm mục đích
làm chủ các kích thích thính giác, theo nghĩa sâu xa hơn của chúng, là đe dọa
và đáng sợ.” Khái niệm cho rằng khả năng nghe phân biệt cao độ giúp đối phó với
âm thanh quá tải đã được lập luận một cách thuyết phục. Tuy nhiên, âm nhạc chắc
chắn còn hơn cả việc tái tổ chức tiếng ồn mang tính tổn thương, cũng giống như
tình yêu còn hơn cả sự tái định hình những mất mát ban đầu.
Âm nhạc,
vốn là một hệ thống âm thanh trừu tượng, được công nhận rộng rãi là tiền thân của
lời nói-một hệ thống âm thanh có ý nghĩa. Giống như trẻ em bị khiếm thính sẽ bắt
đầu giao tiếp bằng cử chỉ cơ thể thay cho các âm vị để trò chuyện, các thần đồng âm nhạc bắt đầu
sử dụng âm thanh có nhạc tính như một phương tiện truyền đạt thông tin từ khi
còn nhỏ.Đối với chúng, âm nhạc không phải là sự tái thích nghi của những thử
nghiệm thính giác trước khi biết nói, nó chính là lời nói. Handel đã hát trước
khi bắt đầu nói; thực tế, âm nhạc là ngôn ngữ đầu tiên của ông. Sự nhận diện
người thân của Arthur Rubinstein thời thơ ấu được dựa trên các giai điệu mà ông
nghe họ hát và ông sẽ dùng những nhạc tố chủ đạo này để đặt tên cho họ. Ông thể
hiện mong muốn của mình thông qua âm nhạc, ví dụ, hát một bản mazurka khi muốn
ăn bánh. Thật may, gia đình ông đủ khả năng hiểu âm nhạc để có thể giải mã những
giao tiếp này. Tương tự, Kissin đã diễn giải gia đình mình, và cả những người bạn
đến thăm, thông qua việc sáng tác và biểu diễn âm nhạc. Đối với những thần đồng
như Kissin và Rubinstein, sự say mê với các kích thích thính giác trừu tượng và
việc dịch chúng thành ý nghĩa cụ thể thể hiện một khả năng không phải là dưới
ngôn ngữ mà là siêu ngôn ngữ.
Nhà tâm
lý học John Sloboda đưa ra một sự so sánh hữu ích giữa ngôn ngữ học âm nhạc và
ngôn ngữ học bằng lời: "Các thành
ngữ âm nhạc không phải là ngôn ngữ, và chúng không có ý nghĩa tham chiếu theo
cách mà các ngôn ngữ như tiếng Anh có. Tuy nhiên, chúng lại có các tính năng cấu
trúc phức tạp, đa cấp độ tương tự như cú pháp hoặc ngữ pháp." Điều này gợi
ý rằng như điều chúng ta đã biết từ lâu về ngôn ngữ, một cấu trúc sâu của âm nhạc
tồn tại trong não bộ ngay cả trước khi nghe thấy các giai điệu, và nó có thể được
kích hoạt dễ dàng nhờ tiếp xúc với âm thanh có nhạc tính. Sự tham gia của cha mẹ
rất quan trọng đối với sự xuất hiện của khả năng này ở trẻ: không chỉ cần có một
phương tiện để giao tiếp bằng âm nhạc thông qua giọng hát hoặc các nhạc cụ có sẵn,
mà còn phải có những người có mặt để hiểu được lời nói đó. Nhà nhân học Robert
Garfias đã khẳng định rằng"căn nguyên của mỗi cấu trúc âm nhạc khác nhau
là cố hữu và liên kết không thể tách rời với cấu trúc của ngôn ngữ nói,"
và rằng " thực tế, hai thứ này là một hệ thống đơn lẻ được tiếp thu từ những
giai đoạn đầu tiên của tuổi sơ sinh thông qua quá trình xử lý liên tục của trẻ
về âm thanh của giọng nói con người xung quanh... Tôi tin rằng âm nhạc có thể
là phương tiện chủ yếu của con người để duy trì một quá trình xã hội hóa."
Nhà âm nhạc học John Baily đã đưa ra giả thuyết rằng việc biểu diễn âm nhạc sớm
phụ thuộc vào khả năng tiếp thu một "ngữ pháp vận động" của trẻ-nghĩa
là sự khéo léo thể chất cần thiết để tạo ra âm nhạc từ khi còn nhỏ vượt xa mức
độ phối hợp thể chất mà trẻ nhỏ thường có. Bị thôi thúc phải thể hiện bản thân bằng
âm nhạc, thần đồng trải qua một quá trình giống một cách kỳ lạ với quá trình trẻ
em khiếm thính tiếp thu ngôn ngữ Ký hiệu.
Khi trò
chuyện với Evgeny Kissin trong suốt nhiều tháng, tôi nhận ra rằng anh nói chuyện
theo cách tôi chơi piano. Biểu diễn âm nhạc là một phương thức mang lại khoái cảm
cho tôi; nhưng mặc dù tôi có đủ trình độ hiểu biết nhưng khả năng diễn đạt của
tôi lại thiếu một cách đáng thất vọng so với những gì tôi thực sự muốn nói. Đối
với Kissin và lời nói cũng vậy. Trí thông minh cao và các phương thức tư duy phức
tạp của anh được ám chỉ chứ không được diễn tả qua trò chuyện. Kissin có nói lắp
một chút, một sự kéo dài các phụ âm bật hơi, sau đó chúng bùng nổ như những quả
bóng bay bị chọc cho nổ. Lời nói của anh ấy bị ngắt quãng bởi những khoảng lặng
dài; dường không mang tính hữu cơ dẫn từ từ này sang từ tiếp theo. Mỗi từ không
diễn cảm thoát ra một cách chậm chạp như băng, luôn nằm gần ý nghĩa mà anh ấy
muốn nói chứ không bao giờ chứa đựng trọn vẹn ý nghĩa đó. Tôi đã đùa với các lý
thuyết ngôn ngữ học một thời gian trước khi đưa chúng ra với anh. Chúng tôi
đang ngồi trong căn hộ được bài trí giản dị; anh và gia đình đang chuẩn bị thu
dọn đồ đạc để chuyển đến một căn hộ lớn hơn và cũ hơn ở gần đó. Cuộc gặp của
chúng tôi là ngẫu hứng; tôi đã gọi điện thoại rồi anh mời tôi qua. Cả hai chúng
tôi đều khá mệt mỏi. Anh mặc một chiếc quần jeans cũ không còn vừa, áo sơ mi
xanh lục và dép đi trong nhà. Bà mẹ và Anna Pavlovna đang đi mua sắm, còn ông bố
và chị đang ở ngoài. Chúng tôi ngồi trong căn phòng nhỏ nơi cây đàn piano - cây
Steinway grand nhỏ của công ty cho mượn - đặt ở đó, nắp đàn đóng chất đầy các
thiệp mừng bên trên.
Tôi muốn
biết điều gì đó về cấu trúc của một đoạn cadenza của Rachmaninoff. "Cái
này à?" Genya hỏi, và chơi sáu ô nhịp. Đột nhiên, căn phòng nhỏ tràn ngập
rồi vỡ bờ vì âm nhạc. Trên máy ghi âm, tín
hiệu nhảy vọt đột ngột đáng ngại. Có lẽ mười phút trò chuyện, như thường lệ,
hơi cứng nhắc, xen lẫn những khoảng lặng dài bị ngắt bởi những câu ngắt quãng của
Genya. Và rồi, không còn cố gắng, không còn thúc giục, không còn rào cản giao
tiếp nào. Năm phút nói cố thêm nữa rồi Kissin chơi hai phút bản ballade của
Chopin mà anh đang chuẩn bị cho mùa diễn sắp tới. Máy ghi âm Sony mười năm tuổi
của tôi báo tín hiệu âm thanh quá lớn tương phản với lời nói, đến nỗi khi lần đầu
nghe lại băng, tôi đã nghĩ mình đã lỡ tay vặn núm điều chỉnh âm lượng. Các nốt
nhạc chứa đựng tất cả cảm xúc đã vắng mặt trong lời nói; hàng rào sắt ngăn nội
tâm và công chúng dường như đã được kéo lên. Khi Genya chơi, tôi nghe thấy một
nỗi khát khao được thấu hiểu-nguồn gốc chính tạo nên vẻ đẹp trong âm nhạc của
anh. Trong lúc chúng tôi nói chuyện,
Genya đã nhiều lần cố nhịn ngáp và giải thích rằng anh đã không ngủ ngon tối
hôm trước, nhưng khi anh chơi đàn thì sự mệt mỏi biến mất khỏi khuôn mặt. Đó
không phải là cách chơi trau chuốt mà anh ấy sẽ trình diễn cho khán giả hòa nhạc,
và khi biểu diễn tác phẩm này vào năm sau, anh ấy chắc chắn sẽ thêm vào những sự
tinh tế và phức tạp đã được nghiên cứu. Anh ấy chỉ chơi để chỉ ra các đoạn mà
tôi đã đề cập; nhưng tôi biết rằng lúc đó chúng tôi đã quý mến nhau, và tôi cảm
thấy, lần đầu tiên kể từ khi chúng tôi gặp nhau, rằng chúng tôi đang có một cuộc
trò chuyện trọn vẹn, rằng anh đang truyền tải một điều gì đó trực tiếp, cá nhân
và giàu cảm xúc. Điều đó giống như việc nhận được một lời tâm sự hoặc một lời
tuyên bố tình bạn, thân mật như một cái ôm cơ thể, tôi muốn đáp lại những gì
tôi đã nghe nhưng tôi không nói được bằng ngôn ngữ đó. Và khi Genya ngừng chơi,
tôi quay lại với lời nói, lời nói đó kéo anh trở lại với ngôn từ. Khoảnh khắc
đó giống như kéo những đám mây trở lại che khuất mặt trời vừa ló rạng.
Tôi hỏi
liệu anh có nghĩ rằng lời nói đôi khi không truyền tải được cảm xúc của anh ấy
không? "Nói bằng lời đối với tôi thì ít hơn nhiều," anh nói. "Thực
tế, tôi thậm chí còn không biết cách truyền đạt qua lời nói. Âm nhạc sẽ diễn đạt
điều tôi muốn nói. Và tôi cũng không thích cố nói về âm nhạc; tự nó nói lên tất
cả. Đối với tôi, không có cách phiên dịch nào áp dụng được cho điều này." Trên
thực tế, việc âm nhạc là một ngôn ngữ đầu tiên không đảm bảo cho việc sử dụng
ngôn ngữ đó một cách xuất sắc hơn việc tiếng Anh là ngôn ngữ đầu tiên đối với hầu
hết trẻ em Mỹ có nghĩa là tất cả chúng sẽ trở thành nhà thơ. Apollinaire đã nổi
tiếng với câu nói rằng các nghệ sĩ rơi vào hai loại: loại nghệ sĩ bậc thầy hoàn
hảo, người khai thác một món quà "tự nhiên" không cần qua trung gian
(mô hình thông thường cho thần đồng), và loại nghệ sĩ chiêm nghiệm, nhưng người
xây dựng sự hiểu biết sâu sắc xung quanh kinh nghiệm. Kissin đã cố gắng thực hiện
một sự chuyển đổi âm nhạc từ mô hình thứ nhất sang mô hình thứ hai.
Nhiệm vụ
của anh là khám phá "sự thật" của tác phẩm anh đang chơi qua sự khẳng
định "sự thật" của chính mình. Với anh, thế giới bị giới hạn theo
nghĩa đen bởi âm nhạc. Anh khiến tôi nhớ đến ý tưởng của Wallace Stevens về một
nghệ sĩ thượng hạng trong bài thơ của ông - The Idea of Order at Key West(Ý niệm
về trật tự ở Key West), trong đó có nhân vật nữ dạo chơi trên bãi biển và nghĩ
rằng"chưa từng tồn tại một thế giới nào... ngoài thế giới được tạo ra khi
cô hát."
Tôi hỏi
Kissin rằng anh sẽ làm gì nếu sự nghiệp gặp trắc trở? "Tôi chưa bao giờ
nghĩ đến điều đó," anh trả lời, "nhưng nếu sự nghiệp của tôi có vấn đề
thì tôi sẽ chỉ có thể tìm thấy sự an ủi trong âm nhạc, trong cây đàn piano. Tôi
không biết mình sẽ ra sao nếu đột nhiên không thể chơi đàn được nữa." Đối
với anh, âm nhạc mang lại ý nghĩa cho thế giới bằng cách sắp xếp-tái cân bằng các
sức mạnh của nó, và chính vì lý do này mà cách diễn tấu của anh dường như tạo ý
nghĩa cho thế giới đối với khán giả của anh. Đối với anh việc giao tiếp vô cùng
quan trọng. Anh thường bố trí thêm ghế đặt xung quanh mình ngay cạnh cây đàn
trên sân khấu để có thêm khán giả dự khán các buổi hòa nhạc của mình."Thật
lạ, nhưng càng có nhiều người trong khán phòng tôi chơi càng tốt hơn," anh
chia sẻ. "Việc tôi phải chơi một tác phẩm trước công chúng là cần thiết để
tôi làm chủ nó. Toàn bộ nhận thức thay đổi, tôi cảm nhận được sự chăm chú của mọi
người và màn trình diễn của tôi phụ thuộc vào điều đó."
Kissin có
đang phát triển như một nghệ sĩ không? Ngay cả khi đã hai mươi bốn tuổi - anh
đã là chủ đề của những nghi ngờ tương tự với những gì mà Bernard Holland, nhà
phê bình âm nhạc của tờ Times, đã lên tiếng gần đây:"Tôi băn khoăn về sự đồng
nhất trong cách tiếp cận của anh. Không nghi ngờ gì, anh là tài năng vĩ đại của
thế hệ mình. Nhưng dù anh có vượt lên trên 'Trường phái Liên Xô,' anh vẫn bị hạn
chế bởi nó. Anh ấy đã được đào tạo để xem âm nhạc là lớn lao, là phức tạp, là sấm
sét, là tốc độ, nhưng một số âm nhạc không cần quá hoành tráng như vậy. Khi tôi
nghe Kissin chơi từ năm năm trước, tôi đã nghĩ cậu bé này có tất cả; cậu ấy mới
đến phương Tây và sẽ vượt qua những thói quen kiểu Liên Xô này và trở thành nghệ
sĩ vĩ đại nhất. Tôi nghe anh chơi vào tháng Giêng này và thấy anh chưa có bất kỳ
sự phát triển thực sự nào. Những gì Kissin làm là tuyệt vời với một số âm nhạc,
nhưng tôi thấy buồn vì một tài năng lớn như vậy lại bị định hướng theo phong
cách “một cỡ phù hợp với tất cả” như vậy."
Tôi sẽ đặt
vấn đề khác đi. Cách chơi của Kissin luôn giàu trí tưởng tượng, nhưng trí tưởng
tượng không thay đổi dù có phong phú đến đâu, và cũng dễ bị cũ. Anh ít quan tâm
đến âm nhạc đương đại vì vậy anh ấy tiếp tục chơi-một cách tuyệt đẹp-những tác
phẩm đã được chơi tuyệt đẹp trong sáu mươi, một trăm, hai trăm năm qua. Cách diễn
tấu hoàn toàn là của riêng anh nhưng có thể anh ấy cần làm điều gì đó khác, điều
gì đó mới mẻ hoặc vượt ra ngoài sự xuất sắc đơn thuần. Các nhà phê bình có tư
duy đương đại, những người vốn coi chủ nghĩa lịch sử là tai hại, nói rằng những
gì Kissin đang làm - một chút Mozart, một chút Beethoven, Schumann, nhiều Chopin
và Liszt, Rachmaninoff, và Prokofiev - chỉ là lặp đi lặp lại. Có rất ít bằng chứng
cho thấy việc chơi nhạc mới làm mới tài năng piano, nhưng việc mạo hiểm vào
lãnh địa âm nhạc ít quen thuộc hơn chỉ có thể làm phong phú thêm bảng màu của
Kissin. Itzhak Perlman từng nói:"Bạn không thể chơi bản violin concerto của
Beethoven lần thứ năm trăm và mong đợi nó luôn tươi mới. Nó không được viết để
một người chơi nhiều lần như vậy." "Anh ấy có đang chơi an toàn
không?" Hamlen hỏi. "Trước hết, những gì Genya chọn biểu diễn không
phải là tất cả những gì anh đang chơi. Những gì chúng ta thấy trong buổi biểu
diễn chắc chắn bị giới hạn hơn so với những gì đang diễn ra về mặt nghệ thuật.
Dù sao đi nữa, chắc chắn là anh ấy không bị trì trệ. Mọi thứ anh chơi đều đáng
ngạc nhiên vì anh đã làm cho nó trở nên đáng ngạc nhiên. Anh ấy không thể chơi
bất cứ điều gì một cách máy móc vì bản thân việc chơi đàn không phải là máy móc
đối với anh."
Chắc chắn
rồi, với danh tiếng đến sớm và vẻ lớn lao trong nghệ thuật piano của mình,
Kissin được so sánh với Van Cliburn. Dường như anh đã bước vào giai đoạn hậu thần
đồng dễ dàng hơn một chút so với tiền bối người Texas, nhưng dù một phần sự sa
sút của Cliburn là do cá nhân - ông bị sự hào nhoáng quyến rũ theo cách mà
Kissin sẽ không bị - anh cũng phải chịu đựng thất bại trong việc mở rộng phạm
vi âm nhạc của mình, và những tác phẩm yêu thích cùng những nhà soạn nhạc yêu
thích của anh ấy trở nên nhàm chán đối với khán giả cũng như đối với chính anh.
Nghệ sĩ piano đương đại có trong tay nhạc mục lớn nhất từng được sáng tác cho bất
kỳ nhạc cụ độc tấu nào. Mặc dù Kissin vẫn đang trong giai đoạn mà người ta hy vọng
là giai đoạn đầu của một sự nghiệp có thể kéo dài thêm sáu mươi năm nữa, anh ấy
dường như không có kế hoạch rõ ràng cho hình thức dài hạn của nghề nghiệp mình.
Quả thực, trong chính cách chơi của anh có một sự thôi thúc tiến lên mạnh mẽ,
đôi khi như đang gấp rút hướng tới một mục tiêu bất định.
Về
Camille Saint-Saëns, một trong những thần đồng vĩ đại nhất của thế kỷ mười
chín, người được bao bọc bằng ánh mặt trời tán dương, Hector Berlioz đã nói:"Anh
ấy biết mọi thứ nhưng lại thiếu kinh nghiệm." Món quà của Evgeny Kissin
chưa bao giờ dẫn anh đến sự lười biếng, và sự bảo bọc của gia đình cùng giáo
viên đã không cản trở anh có những trải nghiệm cảm xúc hình thành nên nghệ thuật
chân chính. Khi tôi hỏi làm thế nào anh ấy đã tránh được sự kiệt sức của thần đồng
của rất nhiều thần đồng? Anh trả lời:"Đơn giản là tôi đã được nuôi dạy tốt
và đúng đắn." Có lẽ thách thức đối với Kissin không nằm ở việc thu thập
kinh nghiệm thế giới mà là ở việc tham gia vào những cuộc đối đầu lớn hơn, ở việc
tìm kiếm nỗi sợ hãi lớn hơn đối với các tác phẩm piano. Năm tới, anh sẽ dành
sáu tháng nghỉ ngơi không lưu diễn và thu âm liên miên của mình, chỉ đơn giản
là để suy nghĩ và chính mình vui chơi, điều mà anh chưa có thời gian thực hiện
kể từ khi bắt đầu sự nghiệp. Điều gì có thể đến từ một kỳ nghỉ phép dài như vậy? Anh trả lời một cách bí ẩn:"Chính
cuộc sống sẽ cho tôi thấy phải làm gì."
Quan sát
Kissin ngồi vào đàn piano tôi thấy như xem một ngọn đèn được cắm điện: dù trước
đó nó được trang trí đến đâu nhưng chỉ khi có điện chạy qua nó mới thể hiện rõ
các công năng thực sự của nó. Bạn sẽ không cảm thấy anh đang truyền năng lượng
vào nhạc cụ đâu mà sẽ thấy anh ấy đang nhận năng lượng từ nó. Bàn tay anh dường
như thực sự là một phần của cây đàn piano. Vào tháng Sáu, tôi đến Barbican Hall
ở London để nghe Kissin biểu diễn Piano Concerto số 3 của Rachmaninoff. Đó là một
trong những buổi hòa nhạc tráng lệ nhất tôi từng được nghe.
Kissin là người kế thừa phong cách của Rachmaninoff:
cách chơi của anh có sự lan tỏa kiểu Tolstoy không bị kích thích của các nghệ
sĩ piano già dặn hơn. Khi bắt đầu bản nhạc, dáng vẻ của anh căng thẳng. Trong
đoạn trình bày chủ đề tuyệt đẹp của dàn nhạc, anh nhíu nhẹ môi dưới trong một
giây như khi đang chìm sâu vào suy tư. Nhưng rồi khi anh bắt đầu chơi thì như
thể thần Zeus giáng trần. Để làm rõ cấu trúc cực kỳ phức tạp của chương đầu
tiên, Rachmaninoff nhân đôi luận phiên bè piano với cello rồi flute rồi horn.
Bàn tay của Kissin làm cho mọi thứ trở nên rõ ràng - tai khán giả không cần đến
những chỗ dựa để theo dõi tác phẩm cuồn cuộn này. Mặc dù tốc độ của nhiều đoạn
rất nhanh, chuyển động của bàn tay Kissin luôn thấy rõ - như thể chúng đang di
chuyển bằng ngôn ngữ ký hiệu. Khi bản concerto kết thúc, có một khoảng lặng dài
rồi đến tiếng hoan hô dậy sóng. Tôi đang ngồi cùng Emilia Aronovna và Anna
Pavlovna, bà mẹ thì đếm số người đứng trong khi bà giáo vẫn ngồi yên. "Tôi
nghĩ là hay”, bà nói và tôi cho rằng bà đang hồi tưởng lại những lần gặp gỡ đầu
tiên với trí tưởng tượng rộng lớn, như trẻ thơ đó, trí tưởng tượng mà dưới sự
hướng dẫn của bà đã không ngừng mở rộng. Kissin không thể giải thích về màn
trình diễn. Sau đó, anh nói:"Tôi chỉ bắt đầu chơi lại một tác phẩm và nó
nghe khác đi, không phải vì tôi muốn nó nghe khác, mà đơn giản là vì bản thân
tôi đã thay đổi. Pushkin nói:”Tôi sống để suy nghĩ và để đau khổ.” Bản thân cuộc
sống mang đến sự thay đổi."
Tôi nhớ đến một buổi hòa nhạc khác của Kissin mà tôi đã
dự vài tuần trước đó tại thành phố Bergamo ở miền bắc Ý, nơi khán giả dường như
chủ yếu là các doanh nhân địa phương và vợ của họ. Buổi độc diễn kết thúc bằng
một món "đặc sản" của Kissin, bản “Các biến khúc trên chủ đề của
Paganini” cực kỳ khó nhưng anh đã chơi không có ranh giới hay giới hạn nào. Tiếng
vỗ tay vang dội. Kissin đứng dậy cúi chào với vẻ cứng nhắc đặc trưng và bước ra
khỏi sân khấu, trông điềm tĩnh như thể vừa ăn trưa xong. Tiếng vỗ tay tăng gấp
đôi và anh quay lại chào về phía các ban công, cúi chào lần nữa và mỉm cười, rõ
ràng là rất vui khi phát hiện ra rằng tất cả những người này đã thưởng thức những
gì bản thân anh cũng hiển nhiên đã thưởng thức. Với bản encore đầu tiên, anh
chơi một bản mazurka của Chopin thật duyên dáng và khán giả vỗ tay vui vẻ. Anh
cúi chào thêm vài lần rồi chơi “Perpetuum Mobile” của Weber. Lại vỗ tay và cúi
chào. Rồi đến Vũ khúc Hungary số 6 và 7 của Brahms. Sau đó, một số khán giả có
lẽ nghĩ rằng phần encore đã kết thúc nến bắt đầu rời khỏi khán phòng. Lại thêm
cúi chào và Kissin chơi thêm một bản waltz của Chopin. Vỗ tay, cúi chào rồi bản
encore thứ năm: “Rage Over a Lost Penny” của Beethoven, với một cách diễn tấu
vui tươi đến nỗi khán giả bật cười. Một trò chơi bắt đầu: encore, vỗ tay, cúi
chào, encore. Sự hoan nghênh dường như thách thức Kissin tiếp tục chơi. Anh
chơi bản Adagio từ bản Fantasy, Adagio, và Fugue của Bach/Busoni, rồi đến Waltz
E-Minor của Chopin, sau đó một người phụ nữ vội vã lên sân khấu, tấn công một
bó hoa rồi chộp lấy một bông hồng môn và
trao nó cho anh. Rồi lại đến bản encore huyền thoại của Rachmaninoff - Prelude
in C-Sharp Minor của chính ông, sau đó là tiếng dậm chân.
Họ chưa để
Kissin đi. Sau khi anh chơi bản Intermezzo số 6 Op. 116 của Brahms, Kissin cúi
chào sáu lần. Sau đó, một người đàn ông trên một ban công phía trên nghiêng người
ra, dang tay như một nhạc trưởng và bắt đầu vỗ tay chậm rãi và nhịp nhàng. Chẳng
mấy chốc, toàn bộ khán giả đang vỗ tay đồng thanh. Kissin trở lại và nhún vai.
Với vẻ mặt niềm nở nhưng hơi trống rỗng, anh chơi Hành khúc Thổ Nhĩ KỳRondo của
Mozart. Thêm tiếng vỗ tay theo nhịp. Sau sáu lần cúi chào nữa, Kissin ngồi xuống
chơi Intermezzo từ Carnival của Schumann. Sau bản encore thứ mười hai, ai đó
hét lên "Tchaikovsky!" và Kissin, gật đầu theo cách một người giàu có
thừa thãi cho những việc từ thiện nhỏ, ngồi xuống và chơi một bản waltz của
Tchaikovsky. Giờ đây, khán giả vỗ tay và dậm chân đồng thanh mạnh đến nỗi toàn bộ tòa nhà bắt đầu rung.
Kissin có vẻ bối rối. Anh ra vào sân khấu hàng tá lần trước bản encore cuối
cùng của mình - Rhapsody Op. 119 của Brahms. Nó vẫn đầy màu sắc và tươi mới như
những nốt nhạc đầu tiên anh ấy đã chơi đêm hôm đó. Lúc này đã quá nửa đêm.
"Thôi nào!" một phụ nữ lớn tuổi nói, ngăn tay chồng khi ông vỗ tay, "Cậu
bé nên đi ngủ." Cuối cùng, tiếng vỗ tay tắt dần và Kissin không quay lại.
Ở cửa sân
khấu, một đám đông chen chúc. Một bảo vệ đang ngăn mọi người, cho khoảng ba
mươi người vào, sau đó thêm vài người nữa, và sau đó thêm vài người nữa. Tôi vượt
qua bảo vệ và thấy Genya đang đứng sau sân khấu, gật đầu chào trang trọng với
những người chúc mừng và ký tên "Kissin" bằng chữ La Mã trên những mảnh
giấy họ chìa ra: ảnh của anh, album, tờ chương trình. Anh mỉm cười lịch sự
trong khi một người rồi một người khác tạo dáng chụp ảnh nhanh với anh. Sau khi
đã ký khoảng một trăm năm mươi chữ ký, bà mẹ bước ra khỏi phòng thay đồ. Bà rất
nhẹ nhàng nắm cánh tay anh và nói điều gì đó bằng tiếng Nga. Những người hâm mộ
thất vọng vì không có được chữ ký của anh đã chụp ảnh khi anh ấy bước đi giữa
bà mẹ và Anna Pavlovna đến một chiếc xe đang chờ. Khi động cơ khởi động, một
tràng vỗ tay lớn và mạnh, vang lên từ đám đông. Khi chiếc xe đi khuất, mọi người
quay sang nhau - có vẻ ngạc nhiên khi thấy mình đang ở một đêm xuân bình thường
tại Bergamo. "Muộn rồi," người đàn ông đứng cạnh tôi nói. "Rất muộn
rồi dấy," ông nói trước khi biến mất trong con phố tối như thể để lý giải
cho sự tĩnh lặng đột ngột.
https://andrewsolomon.com/articles/questions-of-genius/
28/10/2025
Trịnh Minh Cường
Nhận xét
Đăng nhận xét