Chuyển đến nội dung chính

BẠN HÁT ĐÔ RÊ MI HAY XI ĐI I(C D E)?

 Trong âm nhạc bảy bậc âm có hai kiểu tên: A B(H) C D E F G và La Xi Đô Rê Mi Pha Xon. Mỗi kiểu tên được phổ biến ở các quốc gia khác nhau. Kiểu A B C … phổ biến ở các nước nói tiếng Anh và các nước dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ thứ hai: Ấn Độ, Philippines. Các nước châu Âu Đức, Áo, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Hungary cũng dùng kiểu tên này với một thay đổi là âm H cho Xi, còn âm B là Xi giáng.

Kiểu tên Đô Rê Mi phổ các nước có ngôn ngữ Latinh: Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha; các nước Đông Âu, Trung Á: Romania, Nga, Ukraine, và các nước thuộc Liên xô cũ nhưng đôi khi họ nói là Do Re Mi nhưng viết lại là C D E; các nước châu Á: Việt Nam(tất nhiên rồi), Trung Quốc, Nhật Bản(riêng Nhật còn có kiểu riêng gọi là I-Ro-Ha song song với Do Re Mi), Thái Lan; các nước Trung Đông: Thổ Nhĩ Kỳ và các nước Ả Rập.

Như vậy, khi bạn nói: “nốt Xi” thì người thuộc các nước nhóm trước hiểu là âm C(Đô), còn nhóm kia hiểu là âm Xi vì cả hai đều phát âm là “xi”. Vì sao lại rắc rối thế? Để hiểu lý do cần quay về thời Cổ đại khi âm nhạc bắt đầu hình thành như một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa con người.

Âm nhạc rất phát triển ở Hy Lạp cổ đại. Âm nhạc được dùng trong cả lễ nghi tôn giáo và phục vụ giải trí. Người Hy Lạp cổ đại đã có hệ thống ký âm nhưng chưa đủ để lưu truyền âm nhạc của họ đến các thế hệ sau nên âm nhạc của họ bị coi là thất truyền. Nhưng qua những gì họ để lại cho nhân loại về khoa học, triết học và thi ca, đặc biệt hệ thống lý thuyết âm nhạc cùng nền tảng âm học của Pythagoras có thể tin rằng âm nhạc của họ rất có giá trị. Hệ thống ký âm của người họ rất rắc rối với khoảng 60 ký hiệu cho mỗi bậc âm riêng biệt trong toàn bộ dải âm chứ không thành các chu kỳ. Các ký hiệu là các chữ cái được dùng ở nhiều chiều khác nhau thể hiện các âm khác nhau: để đứng là một âm nhưng xoay 90 độ lại là âm khác, xoay 180 độ lại là âm khác nữa… Đó là ký âm cho thanh nhạc, còn cho khí nhạc họ dùng các ký hiệu cổ xưa và mỗi nhạc cụ lại có bộ ký âm riêng. Phải đợi đến đầu thế kỷ VI, hệ thống ký âm của Hy Lạp cổ đại mới được có một bước ngoặt lớn nhờ công của học giả Boethius(khoảng 480–524).

Boethius(Boethius Anicius Manlius Severinus Boethius) sinh ra ở Rome. Ngay từ nhỏ để thể hiện một trí tuệ khác thường khi sớm thông thạo cả tiếng La tinh và tiếng Hy Lạp. Boethius sớm nổi lên như một ngôi sao trong chính trường Vương quốc Ostrogoth khi trở thành thượng nghị sĩ ở tuổi 25, quan chấp chính ở tuổi 33 rồi được chọn làm cố vấn riêng cho Theodoric Đại đế. Trong nỗ lực dung hòa giáo huấn của Plato và Aristotle với thần học Kitô giáo, Boethius đã tìm cách dịch toàn bộ các tác phẩm kinh điển Hy Lạp cho các học giả phương Tây. Ông đã xuất bản nhiều bản chép và chú giải các tác phẩm của Nicomachus, Porphyry, Cicero cùng nhiều tác giả khác. Đồng thời ông cũng viết nhiều về âm nhạc, toán học và thần học. Mặc dù các công trình dịch thuật của ông chưa hoàn thành do qua đời sớm, nhưng nhờ đó mà phần lớn các tác phẩm của Aristotle đã sống sót được đến thời Phục hưng. Do đấu tranh không khoan nhượng với tệ tham nhũng nên ông đã bị giới quan chức căm ghét. Vào khoảng năm 523 khi công khai bảo vệ người đồng nghiệp chấp chính Caecina Albinus bị cáo buộc mưu phản, ông bị Theodoric bỏ tù. Trong thời gian bị giam cầm, Boethius đã viết cuốn Về sự an ủi của triết học, một luận thuyết triết học về vận mệnh, cái chết và các vấn đề khác, trở thành một trong những tác phẩm có ảnh hưởng nhất và được sao chép rộng rãi nhất của thời kỳ đầu Trung Cổ. Ông bị tra tấn và hành quyết vào năm 524 rồi trở thành một vị Thánh tử vì đạo trong đức tin Kitô giáo truyền thống. Bên cạnh các tác phẩm triết học, Boethius còn để lại một công trình âm nhạc quan trọng - De Institutione Musica(về cơ sở của âm nhạc). Đây là cuốn sách gối đầu giường của nhà lý thuyết âm nhạc suốt cả ngàn năm sau. Trong công trình này, ông chia âm nhạc thành 3 loại:

Musica Mundana: Âm nhạc của vũ trụ (sự vận hành của các vì sao).

Musica Humana: Âm nhạc của con người (sự hòa hợp giữa thân thể và linh hồn).

Musica Instrumentalis: Âm nhạc của nhạc cụ (đây mới là thứ âm thanh ta nghe thấy).

Boethius đã đơn giản hóa ký âm bằng cách dùng các chữ cái La tinh để là tên gọi các bậc âm. Ban đầu, ông dùng tới 15 chữ cái từ A đến P làm tên gọi các bậc âm trong hệ thống 2 quãng tám. Về sau, hệ thống này được thu gọn còn 7 chữ cái cho bảy bậc âm A-B-C-D-E-F-G như ngày nay.

Đến khoảng năm 1025, lịch sử âm nhạc lại có thêm một bước ngoặt nữa về ký âm nhờ phát minh của Guido xứ Arezzo(Guido d’Arezzo). Guido là một tu sĩ dòng Biển Đức quê ở thành phố Arezzo, Ý. Sau thời gian đầu sự nghiệp ở tu viện Pomposa trên bờ biển Adriatic, ông nhận ra những khó khăn mà các ca sĩ gặp phải khi học thuộc lòng các bản tố ca Gregory, đặc biệt khi phụng vụ đang phát triển nhanh chóng và ngày càng nhiều ngày lễ được thêm vào lịch phụng vụ. Ông đã nghĩ ra một phương pháp để dạy các ca sĩ học thánh ca trong thời gian ngắn và nhanh chóng được phổ biến trên khắp miền bắc Ý. Phương pháp của ông là một hệ thống khuông nhạc và cách xướng âm. Ông đã nghiên cứu ca từ của bản thánh ca của Diacon(Paulus Diaconus) Ut queant laxis hay Hymnus in Ioannem(Thánh ca Cầu nguyện Thánh Joan):

Ut queant lascis

Resonnare fibris

Mira gestorum

Famuli tuorum

Solve poluti

Labii rearem

Sancte Iohanes

Và nhận thấy những vần thứ nhất của sáu câu đầu tiên được phổ bằng những âm cao dần thêm một cung sau mỗi câu, riêng câu thứ tư cao hơn câu thứ ba nửa cung. Guido lấy 2 ký tự đầu của sáu vần đầu tiên đặt tên cho sáu âm đó là Ut, Re, Mi, Fa, Sol, La. Hệ thống ký âm của Guido đã xác định được cao độ chính xác các bậc âm điều mà trước đó chưa đạt được, ký âm trước đó chỉ xác định được độ cao tương đối giữa các âm. Cuối thế kỷ XVII, Anselm xứ Flandre lại ghép 2 ký tự đầu của câu thứ bảy trong bài Ut queant laxis thành SI để đặt cho âm thứ bảy có cao độ cao hơn âm La 1 cung. Năm 1673, trong chuyên luận Âm nhạc thực hành(Musico Prattico) của mình, Giovanni Maria Bononcini (1642-1678) đã đổi tên âm Ut thành Do vì cho rằng âm Ut khó hát vang. Và âm nhạc ngày nay đã có cách ghi âm hoàn chỉnh với khuông nhạc năm dòng kẻ trên đó có bảy nốt Do re Mi Fa Sol La Si với các trường độ khác nhau.

Dù đã có hệ thống ký âm bằng nốt chính xác, nhưng hai cách gọi tên các bậc âm thì cách mới không hề phủ nhận cách cũ nên cả hai cách vẫn song song tồn tại. Vả lại, phát minh của Guido dành cho chuyên ngành dạy hát nên sự lan tỏa ban đầu diễn ra chủ yếu trong chuyên ngành này.

4/4/2026

Trịnh Minh Cường

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

MỘT SỰ THẬT VỀ FERDINAND CARULLI Ở VIỆT NAM

  Nhân ngày sinh của ông 20/2/1770 Với đại đa số những người Việt nam có chút ít hiểu biết về guitar, khi nghe ai đó nói “học guitar cổ điển" thì họ sẽ hỏi ngay: Học giáo trình Carulli à? Đối với họ Carulli (1770-1841) và guitar cũng như Honda và xe máy hay Sony và hàng điện tử vậy. Điều này cũng dễ hiểu nếu đi ngược dòng thời gian một chút. Vào khoảng giữa thế kỷ 20 khi cây guitar bắt đầu xuất hiện ở Việt nam cùng các nhạc cụ phương Tây và dòng tân nhạc, những người học guitar đầu tiên không có giáo trình nào khác ngoài hai cuốn của F. Carulli và M. Carcassi, Carulli có phần được ưa chộng hơn. Rồi họ tiếp tục truyền cho thế hệ sau và quy trình này vẫn tiếp diễn đến tận bây giờ. Hai cuốn giáo trình này đương nhiên hay vì nó tồn tại suốt từ thế kỷ 18 đến giờ không chỉ ở Việt nam. Cuốn giáo trình của F Carulli là cuốn giáo trình đầu tiên trong lịch sử guitar. Từ đó đến nay ngành sư phạm guitar đương nhiên đã thay đổi rất nhiều cùng tiến trình chung của kỹ thuật diễn tấu guitar và ...

BEETHOVEN, BẢN ANH HÙNG CA CỦA SỐ PHẬN

        Khác với không ít  người yêu Beethoven, bản nhạc đầu tiên của ông tôi được nghe không phải là Fur Elise hay Sonata Ánh Trăng mà là Minuet in G trong một bộ phim nào đó: https://youtu.be/wbwUBlYU9eQ?si=4ZzL1EB223VeQzoL    Tất nhiên khi xem phim chưa biết tên cũng như tác giả của bản nhạc. Mãi về sau khi được đi học guitar tình cờ nhận ra thầy mình đang tập bản này và khi đó   mới biết tác giả là Beethoven. Trước khi có cơ hội để thưởng thức âm nhạc của ông nhiều hơn Minuet in G tôi được đọc cuốn sách của A-lơ-svang viết về của đời và sự nghiệp của ông. Đó là khi tôi đang học cấp 2 và cuốn sách đó là một trong những cuốn sách hay nhất tôi từng đọc. Cuốn sách có trích dẫn một số dòng nhạc để minh họa cho các tác phẩm được đề cập. Sau khi học guitar một thời gian tôi tự chơi được các trích dẫn đó và thấy câu chuyện sinh động hẳn lên. Đồng thời tôi cũng ước giá mà được nghe chính những bản nhạc này thì còn tuyệt vời hơn nhiều. Cách đây ít năm...

HAI CONCERTO CỦA FRYDERYK CHOPIN

  Cũng như hầu hết các nhà soạn nhạc khác, Chopin gần như chỉ tập trung sáng tác một nhạc cụ duy nhất là piano, nhạc cụ đã làm anh nổi bật như một thần đồng lên tám gây chấn động không chỉ ở Warsaw quê nhà mà còn ở Vienna ngay khi anh xuất hiện lần đầu vào năm 1829. Trong khi anh thường xuyên độc diễn tại các salon của giới thượng lưu, đặc biệt khi di cư đến Paris vào năm 1831, anh đã sáng tác hai bản concerto với ý định tiến sâu hơn vào hai trung tâm âm nhạc lớn Vienna và Paris với hai tác phẩm có quy mô lớn nhất của mình để thể hiện tối đa các kỹ năng piano điêu luyện anh sở hữu. Anh đã trình tấu ra mắt concerto Mi thứ trong buổi hòa nhạc chia tay  Warsaw vào ngày 11 tháng 10 năm 1830. Ba tuần sau, anh rời quê hương mãi mãi và anh ra mắt concerto này với thính giả Vienna vào tháng 4 năm 1831. Đau đớn thay, hơn hai mươi năm sau, chỉ còn mỗi trái tim không còn đập của anh được hồi hương. Cuộc đời Chopin là một bi kịch hiếm có trong lịch sử âm nhạc khi dành phần lớn cuộc đời có...