Chuyển đến nội dung chính

ANTONÍN DVORAK

 Sinh ngày 8 tháng 9 năm 1841 tại một ngôi làng nhỏ phía bắc Praha, Antonin Leopold Dvořák(tiếng Séc đọc là đê-vor-giak) là con cả trong gia đình 14 người con. Bố là một nghệ sĩ đàn zither, chủ quán trọ kiêm giết mổ gia súc. Zither là từ tiếng Đức của từ cithara tiếng Hy Lạp là một nhạc cụ dây. Từ này được cho là nguồn gốc của từ guitarra, guitar. Âm nhạc dân gian luôn kèm theo mọi sự kiện gia đình và cậu bé Antonin sớm cùng cha mình tham gia ban nhạc địa phương đồng thời tập sự nghề giết mổ. Chàng trai trẻ Dvořák học chơi organ, violin, piano và tiếng Đức. Anh chơi viola trong Dàn nhạc Nhà hát Bohemia, biểu diễn trong các nhà hàng và vũ hội. Năm 1871, anh bỏ việc ở dàn nhạc để tập trung sáng tác và kiếm sống bằng nghề dạy piano.

Năm 1873, Dvořák kết hôn với Anna Čermáková sau khi tán tỉnh cô chị Josefina và bị từ chối. Hai vợ chồng Dvořák có tổng cộng chín con nhưng chỉ có sáu sống sót. Sau khi kết hôn, Dvořák trở thành một nghệ sĩ organ ở nhà thờ có thu nhập đảm bảo hơn, địa vị xã hội lớn hơn và nhiều thời gian hơn cho sáng tác. Những nỗ lực sáng tác đầu tiên của Dvořák không nhận được buổi công diễn nào. Sau khi tự phê, nhà soạn nhạc đã đốt bỏ một số tác phẩm đầu tiên của mình. Song âm nhạc của anh đã bắt đầu gây sự chú ý của nhà phê bình Eduard Hanslick và nhà soạn nhạc Johannes Brahms, người sẽ giúp sự nghiệp của Dvořák thăng hoa. Năm 1877, qua sự tiến cử của Brahms, nhà xuất bản Simrock đã đặt Dvořák viết một số vũ khúc Slave cho song tấu piano. Nhắm vào thị trường nội địa dễ sinh lời, bản nhạc của tám vũ khúc đã bán hết sạch chỉ trong một ngày. Khi nhà xuất bản Simrock không gửi cho ông khoản tiền tạm ứng cho Bản giao hưởng số 7, nhà soạn nhạc đã phàn nàn rằng ông đã phải hứng chịu một vụ thu hoạch khoai tây tồi tệ và cần một số tiền trả trước. Sau đó Simrock đã từ chối in tên chính xác của Dvořák trên trang bìa rồi nhấn mạnh rằng họ sẽ sửa nó. Ngoài âm nhạc ông là một người đam mê tàu hỏa.

Dvořák đặc biệt được người Anh ngưỡng mộ. Ông đã đến Anh chín lần và một số tác phẩm lớn của ông đã được công diễn lần đầu tại Birmingham, London và Leeds. Dvořák và vợ rất thích dậy sớm. Khi họ nghỉ Cambridge ở nhà của nhà soạn nhạc và nghệ sĩ organ Charles Villiers Stanford, người ta đã rất ngạc nhiên khi thấy từ 6 giờ sáng, vợ chồng Dvořák đang ngồi dưới gốc cây trong vườn.

Sự hấp dẫn của một khoản thù lao khủng đã thuyết phục Dvořák mạo hiểm đến New York. Với công việc giảng dạy và chỉ huy cùng kỳ nghỉ bốn tháng, ông đã được hứa hẹn mức lương không tưởng là 15.000 đô la - gấp 25 lần mức thù lao ông được trả ở Praha, và tương đương khoảng 500.000 bảng Anh hiện tại. Khi ở đó, ông có thêm đam mê mới với tàu hơi nước và chim bồ câu. Trong thời gian ở Mỹ, Dvořák đã hoàn thành ba tác phẩm nổi tiếng nhất của mình - String Quartet số 12 'American', Cello Concerto Si thứ và Giao hưởng “Thế giới Mới”. Khi bản giao hưởng ra mắt, các nhà phê bình không đồng ý về việc liệu đó có phải là một bản giao hưởng hoàn toàn Mỹ hay chỉ là bản giao hưởng Bohemian thông thường của Dvořák. Khi ở Mỹ, Dvořák  dường như dành nhiều thời gian ở nhà và hiếm khi ra ngoài, thậm chí đã dành cả mùa hè với một cộng đồng người Séc ở Iowa. Năm 1895, vấn đề lương bổng khiến ông quyết định quay trở lại Bohemia. Dvořáks rời New York trước khi kết thúc học kỳ mùa xuân mà không có ý định quay trở lại. Dvořák viết vở opera Rusalka ở tuổi 60, chỉ ba năm trước khi qua đời. Buổi ra mắt diễn ra tại Nhà hát Quốc gia  Prague, chính là nơi Dvořák đã từng chơi cùng ban nhạc gia đình. Khoảnh khắc nổi bật của vở diễn là aria Song to the Moon tuyệt đẹp. Dvořák đã khởi xướng sự nghiệp của các nhà soạn nhạc Séc khác như Josef Suk và Vítězslav Novák. Năm 1897, con gái của Dvořák là Otilie đã kết hôn với Suk. Cùng năm đó, Dvořák được bổ nhiệm làm thành viên ban giám khảo cho Học bổng nghệ sĩ thành Vienna và sau đó được vinh danh với huy chương danh dự. Ngày 1 tháng 5 năm 1904, Dvořák qua đời ở tuổi 62 vì đột quỵ để lại nhiều tác phẩm còn dang dở. Năm 1943, chiếc tàu chiến American Liberty của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên là USNS Antonín Dvořák để vinh danh ông.

16/7/2022

Trịnh Minh Cường dịch từ Classic Fm 

Nhân đang nghe toàn bộ sáng tác của ông.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

MỘT SỰ THẬT VỀ FERDINAND CARULLI Ở VIỆT NAM

  Nhân ngày sinh của ông 20/2/1770 Với đại đa số những người Việt nam có chút ít hiểu biết về guitar, khi nghe ai đó nói “học guitar cổ điển" thì họ sẽ hỏi ngay: Học giáo trình Carulli à? Đối với họ Carulli (1770-1841) và guitar cũng như Honda và xe máy hay Sony và hàng điện tử vậy. Điều này cũng dễ hiểu nếu đi ngược dòng thời gian một chút. Vào khoảng giữa thế kỷ 20 khi cây guitar bắt đầu xuất hiện ở Việt nam cùng các nhạc cụ phương Tây và dòng tân nhạc, những người học guitar đầu tiên không có giáo trình nào khác ngoài hai cuốn của F. Carulli và M. Carcassi, Carulli có phần được ưa chộng hơn. Rồi họ tiếp tục truyền cho thế hệ sau và quy trình này vẫn tiếp diễn đến tận bây giờ. Hai cuốn giáo trình này đương nhiên hay vì nó tồn tại suốt từ thế kỷ 18 đến giờ không chỉ ở Việt nam. Cuốn giáo trình của F Carulli là cuốn giáo trình đầu tiên trong lịch sử guitar. Từ đó đến nay ngành sư phạm guitar đương nhiên đã thay đổi rất nhiều cùng tiến trình chung của kỹ thuật diễn tấu guitar và ...

BEETHOVEN, BẢN ANH HÙNG CA CỦA SỐ PHẬN

        Khác với không ít  người yêu Beethoven, bản nhạc đầu tiên của ông tôi được nghe không phải là Fur Elise hay Sonata Ánh Trăng mà là Minuet in G trong một bộ phim nào đó: https://youtu.be/wbwUBlYU9eQ?si=4ZzL1EB223VeQzoL    Tất nhiên khi xem phim chưa biết tên cũng như tác giả của bản nhạc. Mãi về sau khi được đi học guitar tình cờ nhận ra thầy mình đang tập bản này và khi đó   mới biết tác giả là Beethoven. Trước khi có cơ hội để thưởng thức âm nhạc của ông nhiều hơn Minuet in G tôi được đọc cuốn sách của A-lơ-svang viết về của đời và sự nghiệp của ông. Đó là khi tôi đang học cấp 2 và cuốn sách đó là một trong những cuốn sách hay nhất tôi từng đọc. Cuốn sách có trích dẫn một số dòng nhạc để minh họa cho các tác phẩm được đề cập. Sau khi học guitar một thời gian tôi tự chơi được các trích dẫn đó và thấy câu chuyện sinh động hẳn lên. Đồng thời tôi cũng ước giá mà được nghe chính những bản nhạc này thì còn tuyệt vời hơn nhiều. Cách đây ít năm...

HAI CONCERTO CỦA FRYDERYK CHOPIN

  Cũng như hầu hết các nhà soạn nhạc khác, Chopin gần như chỉ tập trung sáng tác một nhạc cụ duy nhất là piano, nhạc cụ đã làm anh nổi bật như một thần đồng lên tám gây chấn động không chỉ ở Warsaw quê nhà mà còn ở Vienna ngay khi anh xuất hiện lần đầu vào năm 1829. Trong khi anh thường xuyên độc diễn tại các salon của giới thượng lưu, đặc biệt khi di cư đến Paris vào năm 1831, anh đã sáng tác hai bản concerto với ý định tiến sâu hơn vào hai trung tâm âm nhạc lớn Vienna và Paris với hai tác phẩm có quy mô lớn nhất của mình để thể hiện tối đa các kỹ năng piano điêu luyện anh sở hữu. Anh đã trình tấu ra mắt concerto Mi thứ trong buổi hòa nhạc chia tay  Warsaw vào ngày 11 tháng 10 năm 1830. Ba tuần sau, anh rời quê hương mãi mãi và anh ra mắt concerto này với thính giả Vienna vào tháng 4 năm 1831. Đau đớn thay, hơn hai mươi năm sau, chỉ còn mỗi trái tim không còn đập của anh được hồi hương. Cuộc đời Chopin là một bi kịch hiếm có trong lịch sử âm nhạc khi dành phần lớn cuộc đời có...