Chuyển đến nội dung chính

BẢN NHẠC TAB VÀ TÍNH LƯỜI


Tab hay tablature là cách ký âm phổ biến ở thế kỷ 16 dành cho đàn phím(organ và harpsichord) hay hai tiền thân của guitar là lute và vihuela. Cách ký âm này không cho biết cao độ hay trường độ của các âm như cách ghi âm chuẩn. Bản tab là một sơ đồ các phím trên đàn ống hay sơ đồ các dây và phím trên đàn lute, guitar. Nó chỉ cho bạn biết chơi các nốt trên bản nhạc tiêu chuẩn kèm theo cần chơi ở phím nào và dây nào. Về bản chất nó là chỉ dẫn kiểu truyền tay và người chơi đàn không cần học nhạc lý. Ở thời Phục hưng, việc đào tạo phổ cập âm nhạc còn rất sơ khai thì đây là cách thuận tiện nhất để các nhạc sĩ đào tạo các học trò và truyền bá các tác phẩm  âm nhạc viết cho các nhạc cụ đó.

Ở thế kỷ 20, các bản nhạc dành cho guitar lại quay lại kiểu tab. Có lẽ sự tụt lùi này xuất phát từ nhu cầu chơi guitar điện và guitar acoustic, hai kiểu guitar phổ biến nhất. Hai loại guitar này chuyên để chơi nhạc nhẹ như pop rock nên việc đọc được bản nhạc tiêu chuẩn cũng không quan trọng lắm. Nhưng khi chơi nhạc cổ điển mà không biết đọc bản nhạc tiêu chuẩn thì sẽ gặp khó khăn. Các nhạc sĩ khi soạn nhạc thường chỉ viết theo cách ký âm tiêu chuẩn. Còn chuyển sang tab là công việc của nhà xuất bản hoặc những nghệ sĩ có trình độ chuyên nghiệp muốn chia sẻ và tất nhiên họ cũng phải có thời gian nữa. Việc chuyển bản nhạc tiêu chuẩn sang tab cũng mất thời gian như chép lại toàn bộ bản nhạc đó. Vả lại, khi chơi đàn theo bản nhạc tiêu chuẩn bạn sẽ dễ “cảm” thấy cái “hồn” của bản nhạc qua những nốt nhạc và ký tự tiêu chuẩn hơn cái sơ đồ khô khan của bản tab. 

Việc chọn chơi đàn qua bản tab thể hiện bạn là người quá lười. Thực tế việc học đọc bản nhạc tiêu chuẩn không hề khó. Có tất cả 7 nốt nhạc trên 5 dòng kẻ. Trên đàn guitar, 7 nốt đó lặp lại khoảng 3 lần thành 21 nốt và nốt nào ra nốt đó. Học đọc nó còn dễ hơn học giao tiếp đơn sơ bằng một ngoại ngữ nhiều. Các ngôn ngữ thường có gần 30 ký tự và lại còn ghép với nhau vô số từ nữa.    

Người ta vẫn hay nói: Trên con đường thành công không có dấu chân của người lười. 

21/10/2020

Trịnh Minh Cường



Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

MỘT SỰ THẬT VỀ FERDINAND CARULLI Ở VIỆT NAM

  Nhân ngày sinh của ông 20/2/1770 Với đại đa số những người Việt nam có chút ít hiểu biết về guitar, khi nghe ai đó nói “học guitar cổ điển" thì họ sẽ hỏi ngay: Học giáo trình Carulli à? Đối với họ Carulli (1770-1841) và guitar cũng như Honda và xe máy hay Sony và hàng điện tử vậy. Điều này cũng dễ hiểu nếu đi ngược dòng thời gian một chút. Vào khoảng giữa thế kỷ 20 khi cây guitar bắt đầu xuất hiện ở Việt nam cùng các nhạc cụ phương Tây và dòng tân nhạc, những người học guitar đầu tiên không có giáo trình nào khác ngoài hai cuốn của F. Carulli và M. Carcassi, Carulli có phần được ưa chộng hơn. Rồi họ tiếp tục truyền cho thế hệ sau và quy trình này vẫn tiếp diễn đến tận bây giờ. Hai cuốn giáo trình này đương nhiên hay vì nó tồn tại suốt từ thế kỷ 18 đến giờ không chỉ ở Việt nam. Cuốn giáo trình của F Carulli là cuốn giáo trình đầu tiên trong lịch sử guitar. Từ đó đến nay ngành sư phạm guitar đương nhiên đã thay đổi rất nhiều cùng tiến trình chung của kỹ thuật diễn tấu guitar và ...

NĂM NHẠC SƯ LÀM THAY ĐỔI DIỆN MẠO CỦA NHẠC CỔ ĐIỂN PHƯƠNG TÂY

Âm nhạc cổ điển phương Tây có một bề dày lịch sử với nhiều thời kỳ khác nhau. Mỗi thời kỳ đều có những nhạc sĩ lớn với đóng góp quan trọng. Họ là những nhà soạn nhạc, nghệ sĩ biểu diễn hay nhà lý luận. Các tác phẩm hay trình độ diễn tấu điêu luyện của họ đã làm thay đổi quan điểm âm nhạc của thính giả cũng như giới chuyên môn. Do đó, nên âm nhạc luôn được làm mới và phát triển không ngừng. Thính giả dễ dàng ghi nhớ tên tuổi những nhà soạn nhạc và nghệ sĩ nhưng ít ai để ý  những người thầy của họ.  Tạp chí âm nhạc BBC đã đề xuất năm người thầy nổi bật nhất lịch sử âm nhạc cổ điển phương Tây. Xin được giới thiệu năm bậc danh sư này cùng các học trò của họ. 1. Simon Sechter (1788-1867) sinh ra ở Friedberg (Frymburk), Bohemia, sau thành một phần của Đế chế Áo. Năm 1804 ông chuyển đến Vienna. Năm 1810, ông bắt đầu dạy piano và hát tại một học viện dành cho học sinh khiếm thị. Năm 1851 Sechter được bổ nhiệm làm giáo sư sáng tác tại Nhạc viện Vienna. S. Sechter có nhiều sinh viên thà...

HAI CONCERTO CỦA FRYDERYK CHOPIN

  Cũng như hầu hết các nhà soạn nhạc khác, Chopin gần như chỉ tập trung sáng tác một nhạc cụ duy nhất là piano, nhạc cụ đã làm anh nổi bật như một thần đồng lên tám gây chấn động không chỉ ở Warsaw quê nhà mà còn ở Vienna ngay khi anh xuất hiện lần đầu vào năm 1829. Trong khi anh thường xuyên độc diễn tại các salon của giới thượng lưu, đặc biệt khi di cư đến Paris vào năm 1831, anh đã sáng tác hai bản concerto với ý định tiến sâu hơn vào hai trung tâm âm nhạc lớn Vienna và Paris với hai tác phẩm có quy mô lớn nhất của mình để thể hiện tối đa các kỹ năng piano điêu luyện anh sở hữu. Anh đã trình tấu ra mắt concerto Mi thứ trong buổi hòa nhạc chia tay  Warsaw vào ngày 11 tháng 10 năm 1830. Ba tuần sau, anh rời quê hương mãi mãi và anh ra mắt concerto này với thính giả Vienna vào tháng 4 năm 1831. Đau đớn thay, hơn hai mươi năm sau, chỉ còn mỗi trái tim không còn đập của anh được hồi hương. Cuộc đời Chopin là một bi kịch hiếm có trong lịch sử âm nhạc khi dành phần lớn cuộc đời có...