Chuyển đến nội dung chính

LỊCH SỬ GIA ĐÌNH VIOLIN

 Đàn violin, viola và cello bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ XVI tại Ý. Bằng chứng sớm nhất là các bức tranh của Gaudenzio Ferrari từ những năm 1530 trong đó có các nhạc cụ giống chúng nhưng chỉ có ba dây. Chuyên luận Académie musicale(học viện âm nhạc) của Philibert Jambe de Fer viết vào năm 1556 có mô tả rõ ràng về gia đình violin gần giống ngày nay. Violin có thể đã được phát triển từ một số nhạc cụ dây khác ở thế kỷ XV-XVI: vielle, rebec và lira da braccio. Nhạc cụ dây kéo xuất hiện ở châu Âu từ thế kỷ IX với đàn lyra Đông La Mã/Byzantine, hay lūrā, λύρα.

Curt Sachs (1881 –  1959) là nhà âm nhạc học người Đức và là một trong những người sáng lập ra ngành organology hiện đại(khoa học nghiên cứu nhạc cụ). Curt Sachs định nghĩa đàn lute trong phần thuật ngữ của công trình Lịch sử nhạc cụ(The History of Musical Instruments) là "gồm thân đàn và cần đàn vừa đóng vai trò là chỗ giữ vừa là phương tiện kéo căng dây đàn ở ngoài thân đàn". Định nghĩa của ông tập trung vào đặc điểm của thân đàn và cần đàn chứ không phải cách phát âm của dây đàn, vì vậy đàn violin được tính là "đàn lute có vĩ kéo".  Sachs cũng phân biệt giữa "đàn lute cần dài" và loại cần ngắn. Loại cần ngắn bao gồm hầu hết các nhạc cụ hiện đại của chúng ta: " lute, guitar, hurdy-gurdy và toàn bộ họ viol và violin".

Kể từ khi xuất hiện, các nhạc cụ họ violin đã tiến hóa liên tục. Mẫu chung của nhạc cụ này được thiết lập vào thế kỷ XVII bởi những nghệ nhân đàn dây như gia đình Amati ở Cremona, Ý, Jacob Stainer ở Tyrol, Áo ngày nay, và Antonio Stradivari cũng ở Cremona. Từ đó các nghệ nhân khác cũng chế tác theo mẫu của họ.

Nguồn gốc của gia đình violin vẫn chưa rõ ràng. Có quan điểm cho rằng cây vĩ được du nhập từ Đế chế Byzantine và thế giới Hồi giáo, quan điểm khác lại cho rằng cây vĩ không được du nhập từ Trung Đông mà ngược lại, và cây vĩ có thể bắt nguồn từ sự tiếp xúc thường xuyên hơn giữa Bắc Âu và Tây Âu.

Cây đàn crwth(crowd, crouth) của  xứ Wales, hoặc viết La-tinh hóa là chrotta, là một nhạc cụ khá đặc biệt và rất cổ xưa. Ngay từ khoảng năm 609 SCN, Aenantius Fortunatus đã xác định là của Anh(chrotta Britanna canit). Ban đầu, chrotta được lắp ba dây, sau là sáu dây và được chơi bằng vĩ kéo. Rất có thể chrotta là nhạc cụ vĩ kéo lâu đời nhất và là tổ tiên của violin.

Nguồn gốc của nghệ thuật chơi đàn bằng cách kéo vĩ vẫn chưa rõ ràng. Hai nhạc cụ kéo vĩ sớm nhất là ravanahatha và omerti được tìm thấy ở Ấn Độ được chế tác từ một ống trụ rỗng bằng gỗ sung dâu và được chơi theo kiểu chơi cello. Còn ở Trung Quốc, có một nhạc cụ kéo vĩ  là đàn hê cầm(xi quin) có hai dây xuất hiện từ thời Đường(Tk VII-X). Cây vĩ nói chung có nguồn gốc độc lập ở những nơi khác nhau.

Vào thế kỷ IX, nhà địa lý người Ba Tư Ibn Khordadbeh(mất năm 913) là người đầu tiên nhắc đến đàn lyra Byzantine kéo vĩ như một nhạc cụ đặc trưng của người Byzantine và tương đương với đàn rabāb được sử dụng trong các Đế chế Hồi giáo cùng thời. Đàn lyra Byzantine lan rộng khắp tây Âu và ở thế kỷ XI và XII, các nhà văn châu Âu sử dụng thuật ngữ fiddle và lira thay thế cho nhau khi nói đến các nhạc cụ kéo vĩ. Trong khi đó, đàn rabāb được du nhập vào Tây Âu, có thể qua Bán đảo Iberia, và cả hai nhạc cụ kéo vĩ này đều được phổ biến rộng rãi khắp châu Âu, tạo ra nhiều loại nhạc cụ kéo vĩ khác nhau ở châu Âu. Trong thời kỳ Phục hưng, đàn rebec có nhiều kích cỡ và cao độ khác nhau: soprano, tenor và bass. Các phiên bản nhỏ hơn của nhạc cụ này được gọi là ribecchini ở Ý và rubechettes ở Pháp.

Trong nhiều thế kỷ sau đó, châu Âu có hai dòng nhạc cụ kéo vĩ riêng biệt: một có hình dáng tương đối vuông được giữ bằng tay được gọi bằng tiếng Ý  là lira da braccio(viol cho cánh tay); dòng kia vai vát  được giữ giữa hai đầu gối được gọi bằng tiếng Ý là dòng lira da gamba hoặc viola da gamba(viol cho chân). Trong thời kỳ Phục hưng, gamba là những nhạc cụ quan trọng và thanh lịch. Dòng viol có phím rất thành công xuất hiện ở châu Âu chỉ vài năm trước khi có violin. Nhưng rồi chúng đã mất vị thế vào tay dòng lira da braccio, một dòng violin hiện đại có âm thanh khỏe hơn hơn và ban đầu bị coi là kém quý tộc hơn.

Ghi nhận rõ ràng đầu tiên về một nhạc cụ giống violin đến từ các bức tranh của Gaudenzio Ferrari. Trong bức tranh Đức Mẹ cây Cam ông vẽ vào năm 1530, một thiên thần đang chơi một nhạc cụ có vĩ kéo rõ ràng mang dấu ấn của violin. Vài năm sau, trên bức bích họa lên vòm trần của nhà thờ Madonna dei Miracoli ở Saronno, các thiên thần đang chơi ba nhạc cụ thuộc họ violin: violin, viola và cello. Các nhạc cụ được Ferrari mô tả có các mặt trước và sau lồi, dây đàn được nối vào hộp khóa và lỗ thoát âm chữ f. Nhưng cây đàn không có phím. Sự khác biệt thực sự duy nhất giữa những nhạc cụ đó và vĩ cầm hiện đại là đàn của Ferrari có ba dây và dáng cong hơn nhiều. Không rõ chính xác ai đã làm ra những cây violin đầu tiên, nhưng có các bằng chứng cho thấy chúng xuất phát từ miền bắc nước Ý, gần Milan. Không chỉ những bức tranh của Ferrari ở khu vực đó mà cả những thị trấn như Brescia và Cremona khi đó cũng nổi tiếng về nghề thủ công chế tác nhạc cụ dây.

Tài liệu sớm nhất về violin được tìm thấy trong các hồ sơ kho bạc của xứ Savoy, nơi ghi lại việc chi trả cho "trompettes et vyollons de Verceil", có nghĩa là "nhưng cây kèn trumpet và đàn violin từ Vercelli". Vercelli là thị trấn nơi họa sĩ Ferrari đã vẽ bức Đức Mẹ Cây Cam nói trên. Lần đầu tiên thuật ngữ tiếng Ý "violino" được sử dụng bằng văn bản còn tồn tại là vào năm 1538, khi một nhóm "violini Milanesi"(những nghệ sĩ violin người Milan) được đưa đến Nice trong quá trình đàm phán kết thúc một cuộc chiến tranh.

Đàn violin nhanh chóng thành rất phổ biến, cả trong giới nhạc đường phố và giới quý tộc. Một bằng chứng rõ ràng là việc vua Pháp Charles IX đã đặt làm một bộ sưu tập nhạc cụ dây rất lớn vào nửa sau thế kỷ XVI. Khoảng năm 1555, triều đình Pháp đã nhập khẩu một ban nhạc khiêu vũ gồm các nghệ sĩ violin người Ý. Đến năm 1573, trong một lễ kỷ niệm của Catherine de' Medici, một người quan sát đã viết rằng "âm nhạc thật du dương chưa từng thấy, và các màn múa ballet được đệm bằng khoảng ba mươi cây violin chơi một giai điệu chiến thắng rất vui tai."

Cây violin cổ nhất còn lại đến thời nay đã được kiểm chứng với niên đại ghi bên trong là cây "Charles IX" của nghệ nhân Andrea Amati, được chế tác tại Cremona vào năm 1564, nhưng nhãn ghi niên đại này còn nhiều nghi ngờ. Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan hiện có một cây violin Amati có thể còn cổ hơn, có thể có niên đại từ năm 1558, nhưng giống như chiếc Charles IX, niên đại này vẫn chưa được khẳng định. Một trong những cây đàn nổi tiếng nhất và chắc chắn là nguyên vẹn nhất là cây Messiah Stradivarius(còn được gọi là 'Salabue'), do Antonio Stradivari chế tác năm 1716. Cây đàn này hầu như rất ít được chơi, có lẽ gần như chưa từng được sử dụng và đến giờ tình trạng vẫn như mới. Hiện nó được lưu giữ tại Bảo tàng Nghệ thuật và Khảo cổ Ashmolean ở Oxford.

Những cây đàn có tuổi đời tầm 300 năm, đặc biệt là những cây do Stradivari và Guarneri del Gesù chế tác, là những cây đàn được săn đón nhiều nhất bởi những nghệ sĩ và nhà sưu tầm  giàu có. Bên cạnh kỹ năng và danh tiếng của nghệ nhân, tuổi đời của nhạc cụ cũng có thể ảnh hưởng đến cả giá cả và chất lượng. Đàn violin thường có 70 chi tiết, thành 72 chi tiết  nếu mặt trên và lưng được ghép từ hai miếng gỗ.

Những nghệ nhân violin nổi tiếng nhất từ đầu thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII bao gồm:

- Gia đình nghệ nhân violin Micheli người Ý:  Zanetto Micheli (1490–1560), Pellegrino Micheli (1520–1607), Giovanni Micheli (1562–1616), Francesco Micheli (1579–1615) và người anh rể Battista Doneda (1529–1610).

- Gia đình nghệ sĩ và nghệ nhân violin và double bass  Bertolotti da Salò: Francesco (1513–1563) và Agostino (1510–1584) Bertolotti, Gasparo Bertolotti (1540–1609) còn gọi là Gasparo da Salò.

- Giovanni Paolo Maggini (1580–1630) học trò của Gasparo da Salò.

- Giovanni Battista Rogeri (1642–1710).

- Gia đình nghệ nhân violin người Ý Amati: Andrea Amati (1500–1577), Antonio Amati (1540–1607), Hieronymous Amati I (1561–1630), Nicola Amati (1596–1684), Hieronymous Amati II (1649–1740)

Gia đình nghệ nhân violin người Ý Guarneri: Andrea Guarneri (1626–1698), Pietro of Mantua (1655–1720), Giuseppe Giovanni Battista Guarneri (Joseph filius Andreae) (1666–1739), Pietro Guarneri (of Venice) (1695–1762) và Giuseppe Guarneri (del Gesu) (1698–1744)

Antonio Stradivari (1644–1737) ở Cremona, Ý.

Gia đình nghệ nhân violin Rugeri family ở Cremona, Italy: Francesco Rugeri (1628–1698) và Vincenzo Rugeri (1663–1719)

Carlo Bergonzi (1683–1747) ở Cremona, Ý.

Jacob Stainer (1617–1683) ở Absam xứ Tyrol, Áo-Ý.

 

Đến thế kỷ XIX, violin đã có một số thay đổi quan trọng:

Mặt cần được kéo dài hơn một chút để có thể chơi được những nốt cao nhất.

Mặt cần đàn được nghiêng hơn để tăng khoảng cách từ dây đến mặt cần nhằm tăng cường độ đáp ứng sự phát triển của dàn nhạc.

Hầu như tất cả các cây đàn cũ đều được cải tiến bao gồm việc kéo dài cần đàn thêm 1 cm để đáp ứng với việc tăng cao độ chuẩn.

Các thanh sườn dải trầm của hầu hết các cây đàn cũ đều được làm nặng hơn để đủ khỏe cho dây đàn căng hơn do tăng cao độ.

Những nghệ nhân đàn cổ điển đã "đóng đinh" và dán cần đàn vào khối trên của thân đàn trước khi dán mặt đàn vào, trong khi những nghệ nhân về sau sẽ ghép mộng cần đàn vào thân đàn sau khi lắp ráp hoàn chỉnh thân đàn.

Vào khoảng năm 1820, Louis Spohr(1784-1859) đã phát minh thêm bộ phận tựa cằm giúp cây đàn được giữ chắc hơn nên tay trái của các nghệ sĩ được tự do hơn để thực hiện được các kỹ thuật ngày càng thêm điêu luyện.

Những thay đổi này làm nhưng cây violin cổ có âm thanh và độ đáp ứng khác biệt đáng kể so với nguyên bản. Tuy nhiên, hầu hết đàn violin ngày nay đều có vẻ ngoài giống các cây đàn thời xưa.

14/11/2025 

Trịnh Minh Cường tổng hợp từ các nguồn trên mạng

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

MỘT SỰ THẬT VỀ FERDINAND CARULLI Ở VIỆT NAM

  Nhân ngày sinh của ông 20/2/1770 Với đại đa số những người Việt nam có chút ít hiểu biết về guitar, khi nghe ai đó nói “học guitar cổ điển" thì họ sẽ hỏi ngay: Học giáo trình Carulli à? Đối với họ Carulli (1770-1841) và guitar cũng như Honda và xe máy hay Sony và hàng điện tử vậy. Điều này cũng dễ hiểu nếu đi ngược dòng thời gian một chút. Vào khoảng giữa thế kỷ 20 khi cây guitar bắt đầu xuất hiện ở Việt nam cùng các nhạc cụ phương Tây và dòng tân nhạc, những người học guitar đầu tiên không có giáo trình nào khác ngoài hai cuốn của F. Carulli và M. Carcassi, Carulli có phần được ưa chộng hơn. Rồi họ tiếp tục truyền cho thế hệ sau và quy trình này vẫn tiếp diễn đến tận bây giờ. Hai cuốn giáo trình này đương nhiên hay vì nó tồn tại suốt từ thế kỷ 18 đến giờ không chỉ ở Việt nam. Cuốn giáo trình của F Carulli là cuốn giáo trình đầu tiên trong lịch sử guitar. Từ đó đến nay ngành sư phạm guitar đương nhiên đã thay đổi rất nhiều cùng tiến trình chung của kỹ thuật diễn tấu guitar và ...

BEETHOVEN, BẢN ANH HÙNG CA CỦA SỐ PHẬN

        Khác với không ít  người yêu Beethoven, bản nhạc đầu tiên của ông tôi được nghe không phải là Fur Elise hay Sonata Ánh Trăng mà là Minuet in G trong một bộ phim nào đó: https://youtu.be/wbwUBlYU9eQ?si=4ZzL1EB223VeQzoL    Tất nhiên khi xem phim chưa biết tên cũng như tác giả của bản nhạc. Mãi về sau khi được đi học guitar tình cờ nhận ra thầy mình đang tập bản này và khi đó   mới biết tác giả là Beethoven. Trước khi có cơ hội để thưởng thức âm nhạc của ông nhiều hơn Minuet in G tôi được đọc cuốn sách của A-lơ-svang viết về của đời và sự nghiệp của ông. Đó là khi tôi đang học cấp 2 và cuốn sách đó là một trong những cuốn sách hay nhất tôi từng đọc. Cuốn sách có trích dẫn một số dòng nhạc để minh họa cho các tác phẩm được đề cập. Sau khi học guitar một thời gian tôi tự chơi được các trích dẫn đó và thấy câu chuyện sinh động hẳn lên. Đồng thời tôi cũng ước giá mà được nghe chính những bản nhạc này thì còn tuyệt vời hơn nhiều. Cách đây ít năm...

NĂM NHẠC SƯ LÀM THAY ĐỔI DIỆN MẠO CỦA NHẠC CỔ ĐIỂN PHƯƠNG TÂY

Âm nhạc cổ điển phương Tây có một bề dày lịch sử với nhiều thời kỳ khác nhau. Mỗi thời kỳ đều có những nhạc sĩ lớn với đóng góp quan trọng. Họ là những nhà soạn nhạc, nghệ sĩ biểu diễn hay nhà lý luận. Các tác phẩm hay trình độ diễn tấu điêu luyện của họ đã làm thay đổi quan điểm âm nhạc của thính giả cũng như giới chuyên môn. Do đó, nên âm nhạc luôn được làm mới và phát triển không ngừng. Thính giả dễ dàng ghi nhớ tên tuổi những nhà soạn nhạc và nghệ sĩ nhưng ít ai để ý  những người thầy của họ.  Tạp chí âm nhạc BBC đã đề xuất năm người thầy nổi bật nhất lịch sử âm nhạc cổ điển phương Tây. Xin được giới thiệu năm bậc danh sư này cùng các học trò của họ. 1. Simon Sechter (1788-1867) sinh ra ở Friedberg (Frymburk), Bohemia, sau thành một phần của Đế chế Áo. Năm 1804 ông chuyển đến Vienna. Năm 1810, ông bắt đầu dạy piano và hát tại một học viện dành cho học sinh khiếm thị. Năm 1851 Sechter được bổ nhiệm làm giáo sư sáng tác tại Nhạc viện Vienna. S. Sechter có nhiều sinh viên thà...