Robert Schumann là nhà soạn nhạc và nhà phê bình âm nhạc người Đức sinh ra ở Zwickau vào ngày 8 tháng 6 năm 1810, sau F Chopin 3 tháng(1/3/1810) . Là một thiên tài kỳ quặc và hay gây rắc rối, ông đã sáng tác ra một số bản nhạc hay nhất của thời kỳ Lãng mạn cùng một số bản nhạc kém nhất. Bị ảnh hưởng nặng nề bởi chứng rối loạn lưỡng cực, ông đã đạt được năng suất gần như siêu phàm trong thời kỳ bị hưng cảm của mình. Cuộc đời ông kết thúc sớm thật đau đớn vì bị mất trí. Tuy nhiên, ông đã kịp để lại những tuyệt phẩm khi còn khỏe: những sáng tác cho piano và ca khúc nghệ thuật.
Những
Năm Đầu Đời
Ông bố
Schumann là người bán sách và cũng là tiểu thuyết gia và dịch giả của Walter
Scott và Byron. Robert bắt đầu học piano khi lên bảy, học tiếng La-tinh và tiếng
Hy Lạp ở trường và phát triển niềm yêu thích sâu sắc với văn học và viết lách
khi bước vào tuổi thiếu niên. Robert tiếp tục phát triển hướng tới một nghệ sĩ
piano và nhà văn. Khi 16 tuổi, ông bố qua đời và trong cùng tháng đó chị gái
anh cũng tự sát. Bố anh đã di chúc cho Robert nhận được tài sản thừa kế với điều
kiện anh phải tham gia một khóa học ba
năm ở cấp đại học, và năm sau Schumann ghi danh khoa luật tại Đại học
Leipzig.Anh dành thời gian đọc Jean Paul Richter và nhanh chóng trở thành học
trò piano của Friedrich Wieck, người có cô bé Clara lên chín sau sẽ thành vợ
anh. Anh phát triển niềm yêu thích sâu sắc với âm nhạc của Schubert, điều sẽ ảnh
hưởng lớn đến những năm tháng sáng tạo của anh về sau.
Năm 1830,
Schumann từ bỏ ngành luật và tiếp tục học nhạc với Wieck. Dù luyện tập điên cuồng
nhưng anh không thể trở thành nghệ sĩ
piano điêu luyện như mong ước do bị chứng "tê" ở ngón giữa của tay phải,
có thể nguyên nhân từ việc anh sử dụng một chiếc nẹp để tăng cường sức mạnh cho
bàn tay, hoặc do ngộ độc thủy ngân liên quan đến việc điều trị bệnh giang mai
có thể mắc phải từ thời thiếu niên. Nhưng may mắn thay, anh không cần phải
thành một nghệ sĩ điêu luyện vì anh đã kết hôn với một nghệ sĩ piano tài năng.
Âm nhạc
và rắc rối những năm 1830
Những năm
1830 đầy sóng gió đối với Schumann. Anh đã đấu tranh với thầy Wieck về quá
trình học và mối quan hệ của anh với Clara, điều Wieck cực lực phản đối. Mỗi
khi bị căng thẳng, anh uống rượu và hút thuốc rất nhiều và kết cục là những cơn
trầm cảm đầu tiên. Dần dần, Schumann từ bỏ giấc mơ về kỹ năng chơi đàn phím
điêu luyện và trở thành một nhà phê bình tích cực, điều sẽ được lịch sử âm nhạc
đánh giá rất cao. Đồng thời, anh cũng phát triển thành một nhà soạn nhạc có tiềm
năng.
Năm 1834,
Robert thành lập tờ Neue Zeitschrift für Musik(tạp chí âm nhạc mới)
và biến nó thành một nền tảng để anh triết
lý về âm nhạc của quá khứ và hiện tại cũng như để đưa tin và phân tích các sáng
tác mới. Trong thập kỷ này Robert đã sáng tác các tác phẩm quan trọng tạo nên
danh tiếng của nhà soạn nhạc piano: Carnaval, Davidsbündler Tätzen, Symphonic
Etudes, Fantasy in C, Kinderszenen (Hoạt cảnh thời thơ ấu), Kreisleriana ….
Cũng thời gian này, anh kết bạn với F Chopin và F Mendelssohn.
Hôn
nhân, âm nhạc và hưng cảm
Đến năm
1840, Clara Wieck 20 tuổi đã thành một nghệ sĩ piano nổi tiếng. Cuộc hôn nhân của
Schumann với cô - diễn ra một năm sau khi anh thắng kiện trong vụ kiện chống lại
cha cô - đã dẫn đến một suối nhạc phẩm dồi dào. Đầu tiên là “Year of Song”. Dự
đoán trước tâm trạng trữ tình trong cuộc hôn nhân, Schumann tập trung cảm xúc
đang dâng trào của mình vào thanh nhạc với gần 140 ca khúc vào năm 1840, hầu hết
số đó ra đời trong thời điểm đầy lo âu trước tháng 8, khi đơn kiện của Robert
và Clara đã đệ ra tòa và rồi ông bố đã quyết định có lợi cho họ. Năm sau, trong
tâm trạng ăn mừng, anh chuyển hướng sang nhạc giao hưởng. Kết quả là hai bản
giao hưởng — số 1 Xi giáng trưởng và số 4
Rê thứ cùng Overture, Scherzo và Finale, và một bản Fantasy La thứ cho
piano và dàn nhạc. Năm 1842 Schumann tập trung vào âm nhạc thính phòng với ba tứ
tấu đàn dây, Ngũ tấu piano Mi giáng trưởng và Tứ tấu piano tuyệt vời cũng Mi
giáng trưởng.
Sự tập
trung cao độ như vậy vào một thể loại duy nhất tại một thời điểm có thể được
coi là hành vi hưng cảm điển hình. Mặt trái của đồng xu - những nỗi ám ảnh và
những cú trượt kinh hoàng đến trầm cảm - xuất hiện khi những năm 1840 trôi qua,
khiến nhà soạn nhạc mất khả năng lao động. Vào cuối năm 1844 Schumann và Clara
chuyển đến Dresden, vào một trong những thời điểm tồi tệ nhất của ông. Trong
vài năm tiếp theo, ông đã hoàn thành bản Piano Concerto La Thứ, bản giao hưởng
số 1 và 2, vở opera Genoveva và một bài thơ kịch đặc biệt dựa trên tác phẩm Manfred
của Byron.
Düsseldorf
và xuống dốc
Năm 1850,
Schumann nhận chức giám đốc âm nhạc thành phố Düsseldorf. Một trong những tác
phẩm đầu tiên ông sáng tác sau khi đến đây là bản Giao hưởng số 3 Mi giáng trưởng “Rhenish” lấy cảm hứng từ Nhà thờ lớn Cologne hùng vĩ.
Trong ba mùa diễn ở vị trí này, Schumann đã gặp khó khăn với các quan chức
thành phố rồi cuối cùng, do hành vi ngày càng thất thường trên bục phát biểu,
Schumann đã đánh mất sự tôn trọng của dàn nhạc và dàn hợp xướng và bị sa thải
vào mùa thu năm 1853. Điểm sáng trong mùa giải đáng buồn đó là khoảng thời gian
gia đình Schumann ở bên nghệ sĩ violin nổi tiếng Joseph Joaquim và chàng trai
Johannes Brahms 20 tuổi, một thiên tài mà Schumann ngay lập tức đã nhận ra khi mới chớm
nở.
Mùa đông
năm 1854, cơn điên loạn của Schumann bộc lộ rõ rệt: ông nghe thấy những giọng
nói “thiên thần” nhanh chóng biến thành tiếng ồn ào của “hổ và linh cẩu”. Vào một
buổi sáng tháng Hai, ông đi bộ đến một cây cầu bắc qua sông Rhine và lao mình
xuống nhưng được ngư dân cứu. Để bảo vệ Clara, ông đã được đưa vào viện điều dưỡng.
Các bác sĩ đã ngăn không cho Clara gặp chồng mãi đến vài ngày trước khi ông qua
đời.
Âm nhạc
của những nhân cách thơ ca
Sự nhạy cảm
về văn học và bản chất nội tâm của Schumann đã khiến ông thấm nhuần cá tính
trong hầu hết mọi thứ ông viết - khi là những bài hát hay nhất và những bản nhạc
piano, thường là nhiều khía cạnh trong tính cách của chính ông. Gần như tất cả
các sáng tác cho piano của ông đều mang tính tham khảo, cố gắng thể hiện những
cảm xúc được khơi dậy bởi văn học hoặc mô tả sự tương tác của các nhân vật
trong một số cuốn tiểu thuyết hoặc bài thơ trữ tình đang diễn ra trong tâm
trí được bao quanh bởi những nhân vật tưởng
tượng, giống như David trong Kinh thánh, sẵn sàng đứng lên chống lại những người
Philistines đầy nghệ thuật thời đó. Các thành viên của hội này bao gồm Meister
Raro, có lẽ là hình mẫu lý tưởng hóa của người thầy - bố vợ của ông, cũng như
hai nhân vật chính của Schumann: Florestan hướng ngoại nóng nảy và Eusebius
xanh xao ham học hướng nội. Davidsbündler Tände (Những điệu nhảy của bộ tộc
David) ghi lại cụ thể một hành trình đầy cảm xúc và âm nhạc với hai bản ngã
thay thế này cầm lái - nhưng hầu hết các tác phẩm của Schumann cũng vậy, đặc biệt
là những tác phẩm dành cho piano.
Âm nhạc
trữ tình, mãnh liệt của Schumann đã tạo nên một số ca khúc tuyệt vời và cảm động
nhất trong nhạc mục. Töpferliebe(Tình yêu của nhà thơ), một liên ca khúc
phổ nhạc 16 bài thơ của Heinrich Heine, là tập ca khúc nổi tiếng nhất của ông
và là một thành tựu cao nhất trong ca khúc Đức. Các liên ca khúc khác gồm Frauenliebe
und Leben(Tình yêu và cuộc sống của phụ nữ) và hai chùm có tựa đề Liederkreis(một
bài thơ của Heine, một bài thơ của Joseph von Eichendorf). Cùng một số đáng kể
nhạc thính phòng; những tác phẩm hay nhất là Ngũ tấu piano (tác phẩm đầu tiên từng
được viết cho phần bổ sung đó), Tứ tấu piano và Ba Romance cho oboe và piano.
Là một
nhà giao hưởng, Schumann bị kể nhiều tội: lúng túng trong việc xây dựng các
hình thức lớn, phối khí rối rắm, và lạm dụng việc trùng âm khiến âm thanh luôn
lạc điệu. Nhưng ông có khả năng đạt được những hiệu ứng tuyệt vời cho dàn nhạc,
và Giao hưởng thứ Ba và thứ Tư của ông đã hé lộ những cách tiếp cận hình thức độc
đáo và sáng tạo. Trong nỗ lực củng cố cảm giác thống nhất trong Giao hưởng thứ Tư,
ông chỉ định bốn chương của nó sẽ được chơi liên tục không nghỉ với mục đích là
toàn bộ tác phẩm sẽ tạo thành một cấu trúc lớn xoay vòng. Tính thống nhất cơ bản
của tác phẩm được khẳng định trong việc xử lý điệu thức và trong sự liên kết chủ
đề giữa chương cuối với chương đầu tiên và các phần của chương thứ ba với
chương thứ hai. Chất liệu được đan kết chặt chẽ đến mức các nhà âm nhạc học coi
nó như một bước ngoặt trong lịch sử của thể loại này. Trong số các tác phẩm hòa
nhạc, bản Piano concerto là tác phẩm hay
nhất của Schumann. Cello Concerto là một tác phẩm rắn chắc nhưng bản Violin Concerto, một tác phẩm
muộn màng có nhiều rắc rối, cần được xử lý rất đồng cảm để đạt được hiệu quả.
Không một nỗ lực nào của Schumann dành cho sân khấu giành được chỗ đứng trong kịch
mục.
Không còn
nghi ngờ gì nữa, Schumann sẽ mãi là một gương mặt điển hình của lịch sử âm nhạc,
nếu chất lượng công việc là thước đo duy nhất thì tầm quan trọng của ông đã được
đánh giá quá cao từ lâu. Khả năng của
ông đôi khi không đáp ứng được tham vọng của mình, nhưng ông đã thổi bùng lên
những ngọn lửa trong đời sống âm nhạc. Vì ở cương vị nhà phê bình, ông thật sắc
sảo trong một số đánh giá, cực kỳ khác biệt ở những đánh giá khác, và luôn rất
hào phóng trong mọi trường hợp. Ông chưa bao giờ trở thành một nghệ sĩ piano vĩ
đại, mà chỉ thành một nhạc trưởng thất bại
và đôi khi còn không phải là một nhà soạn nhạc giỏi. Nhưng toàn bộ con người
ông toát lên âm nhạc, được hình thành bởi giấc mơ và trí tưởng tượng. Ông là
người lãng mạn tinh túy của âm nhạc, luôn nhiệt huyết không ngừng vì lý tưởng.
8/6/2024
Nhân sinh
nhật ông mới tìm đọc thêm về ông và không
cầm được nước mắt vì thương ông quá.
Trịnh
Minh Cường dịch từ nguồn NPR
Nhận xét
Đăng nhận xét