Chuyển đến nội dung chính

NHỮNG CÂU TRUYỆN CỔ CỦA ANDERSEN ĐÃ GÂY CẢM HỨNG CHO CÁC NHÀ SOẠN NHẠC NHƯ THẾ NÀO?

Hans Christian Andersen là ai?

Bản thân Andersen cũng không phải là một người đơn giản, hoàn toàn khác xa với hình ảnh ngốc nghếch do Danny Kaye thủ vai trong bộ phim ca nhạc sướt mướt của Frank Loesser ở Hollywood. Thực ra ông là con một người thợ đóng giày nghèo và nữ thợ giặt mù chữ ở thị trấn nhỏ Odense. Dù yếu sức khỏe và chật vật mưu sinh nhưng ông thợ đóng giày là người được học hành và luôn có sách trong nhà. Cậu bé Andersen lớn lên giữa những cuốn sách nên rất ham đọc và sớm yêu thích sân khấu. Khi 14 tuổi, với vốn liếng là lòng tự tin sắt đá, cậu đã đến Copenhagen để lập nghiệp. Cậu gây được ấn tượng với một người quản lý nhà hát đến mức ông đã gửi chàng trai vụng về này đến trường học. Dù Andersen ghét việc học nhưng anh đã nhanh chóng trở thành một nhà văn và nhà thơ có triển vọng. Anh có một đặc điểm nổi bật là vụng về lạ thường. Kể cả đến khi thành danh rồi đi khắp châu Âu như một công dân nổi tiếng nhất đất nước mình, người ta vẫn thấy một Andersen vụng về như vậy.

Cùng vẻ ngoài xấu trai, gầy gò và lóng ngóng lạ thường, ông còn có một tính cách phức tạp, tự ti nhưng vô cùng tham vọng, đôi khi hài hước, đôi khi đòi hỏi dai như đỉa. Sau chuyến thăm ​​của Andersen, Charles Dickens đã treo một tấm biển trước nhà mình:"Hans Andersen đã ngủ trong căn phòng này năm tuần - đối với gia đình này đó dường như là cả một quãng thời gian dài!" Hơi bối rối và thất vọng về chuyện nam nữ, ông đã phải lòng những người không phù hợp chút nào như nữ danh ca opera Jenny Lind và vũ công Harald Scharff. Người ta có thể thấy sự tự thương hại phản ánh trong nỗi buồn và sự xa lánh trong nhiều câu chuyện của ông. Ông rất giống "Vịt con xấu xí" của chính mình, như họa sĩ người Anh Robert Barrett Browning, con trai của nữ sĩ Elizabeth Barrett Browning, đã chỉ ra rằng chính tâm hồn ông đã trở thành một con thiên nga.

Hans Christian Andersen đã truyền cảm hứng cho các nhà soạn nhạc lãng mạn như thế nào?

Andersen có thể yêu Jenny Lind không chỉ vì cô hát hay mà còn vì âm nhạc luôn là trung tâm trong niềm đam mê sân khấu của ông. Sức mạnh của âm nhạc là hình ảnh trong nhiều câu chuyện của ông - như điệu nhảy ám ảnh trong "Đôi giày đỏ", hoặc hiệu ứng siêu việt thậm chí đẩy lùi cả chết chóc trong "Hoàng đế và chim sơn ca". Từ nhỏ, ông đã là đồng tác giả của nhiều vở nhạc kịch vui nhộn. Đến năm 1832, ông bắt đầu viết kịch bản cho những vở opera nghiêm túc hơn của Ivar Frederik Bredal(1800-1864)và nhà soạn nhạc sân khấu hàng đầu Johan Peter Emilius Hartmann(1805-1900), tác giả của nhiều bản nhạc sôi động, đầy màu sắc cho các vở ballet của biên đạo múa nổi tiếng Bournonville, những bản nhạc vẫn còn được yêu thích đến tận ngày nay.

 Một trong những vở opera của họ, Liden Kirsten(Cô bé Kirsten viết năm 1848) vẫn là một tác phẩm quan trọng trong kịch mục opera Đan Mạch, với tiết mục nổi bật là bản aria Sverkels Romance viết cho giọng nam cao. Thành công quốc tế ngày càng tăng của Andersen cùng những chuyến đi khắp các nước đã đưa ông tiếp xúc nhiều hơn với các nghệ sĩ hàng đầu châu Âu. Họ không chỉ là những nhà văn nhà thơ như Dickens và Browning mà còn cả các nhạc sĩ lớn như Schumann, Liszt, Mendelssohn và Wagner. Gu thẩm mỹ âm nhạc của ông phải ở hàng đầu khi là một trong những người hâm mộ Wagner sớm nhất. Năm 1855 ông đã đến thăm Wagner khi nhà soạn nhạc đang phải sống lưu vong ở Thụy Sĩ. Wagner đã đọc những câu chuyện của Andersen cho gia đình mình nghe. Năm 1840 Schumann đã phổ nhạc bốn bài thơ của Andersen trong tác phẩm “Fünf Lieder”(năm lied) Op. 40 của mình và đề tặng tác phẩm cho nhà thơ. Nhiều nhân vật hàng đầu Scandinavia cũng đã phổ nhạc các bài thơ của ông, từ Niels Gade đến Edvard Grieg, trong khi Hans Christian Lumbye "Strauss của Đan Mạch" hiền từ tại Vườn Tivoli đã sáng tác các bản valse dựa trên thơ của Andersen. Đến năm 1875 khi Andersen qua đời rồi sau đó, các sáng tác của ông vẫn là chủ đề yêu thích của rất nhiều nhà soạn nhạc Scandinavia. Các nhà soạn nhạc khác trên khắp thế giới cũng ngày càng quan tâm đến những câu chuyện này.

 

Ảnh hưởng của Hans Christian Andersen đến các nhà soạn nhạc thế kỷ XX

Những năm trước và sau Thế chiến thứ Nhất chứng kiến ​​sự bùng nổ quốc tế của Andersen. Ví dụ ở Anh, các nhà soạn nhạc có ảnh hưởng như Charles Stanford và Granville Bantock đã sáng tác dựa trên các tác phẩm của Andersen. Vở opera đầu tiên của F. Delius - Irmelin (1890) – dựa trên truyện “Công chúa và chàng chăn lợn” của Andersen. Tại Áo, A. Zemlinsky, người cùng thời với Mahler, đã dựa trên truyện cổ tích của Andersen để sáng tác hai tác phẩm được dàn dựng công phu của mình, "Ngày xửa ngày xưa" (1900) và "Nàng tiên cá" (1903), cũng như nhà soạn nhạc trẻ E. W. Korngold  với những tác phẩm piano xuất sắc của mình(1910). Rồi nhà soạn nhạc người Séc Vitezslav Novák,   Honegger người Pháp-Thụy Sĩ cũng đã phổ nhạc cho "Nàng Tiên cá".

 Tại Nga, vốn thừa hưởng sở thích về các chủ đề cổ tích từ nhạc sư Rimsky-Korsakov, Stravinsky đã tìm đến Andersen để sáng tác vở opera "Chim họa mi" (1914) và vở ballet "Nụ hôn của nàng tiên" (1928, dựa trên "Nàng tiên băng giá") theo phong cách Tchaikovsky. Prokofiev đã phổ nhạc "Vịt con xấu xí" như một ca khúc tiêu biểu (1914). Ngay cả vào những năm 1930, Đoàn Ballet Nga đã đặt Erlanger viết  vở “Les cent baisers”(một trăm cái hôn), cũng dựa trên “Công chúa và chàng chăn lợn”, trong khi năm 1935 chứng kiến ​​buổi công diễn lần đầu  của vở Le roi nu(Hoàng đế cởi chuồng) của Jean Françaix (dựa trên Chiếc áo mới của Hoàng đế) tại Nhà hát Opera Paris.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, làn sóng sáng tác này đã bắt đầu lắng xuống, ngay cả ở Đan Mạch. Vở opera Elverhoj của Louis Glass lấy cảm hứng từ Andersen, nhưng nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của Đan Mạch - Carl Nielsen - lại chỉ phổ nhạc thành vài ca khúc. Cuối đời, ông từng cân nhắc sáng tác một vở opera dựa trên tác phẩm của Andersen nhưng rồi lại để đó. Thay vào đó năm 1930, ông đã đóng góp nhạc nền cho vở kịch “Amor og Digteren”(Tình yêu và thi sĩ) kể về tình yêu của Andersen và Jenny Lind. Có lẽ ông cảm thấy Andersen đã bị khai thác cạn kiệt hoặc giả những câu chuyện đó không phù hợp với chất nhạc tươi mới của ông.

Nếu vậy, ông ấy đã đúng. Nhiều tác phẩm âm nhạc dựa trên truyện của Andersen, dù hay đến đâu vẫn không thể truyền tải được bầu không khí sâu lắng trong những câu chuyện của ông một cách trọn vẹn, nếu không quá ngọt ngào thì lại quá cầu kỳ, giả tạo. Điều này đúng với nhiều nhà soạn nhạc hiện đại đã tiếp thu phong cách của Andersen, chẳng hạn như Hans Werner Henze, hoặc nhà soạn nhạc theo trường phái âm nhạc chuỗi Werner Egk trong phiên bản nhạc thính phòng của “Chim Họa mi”. Và người ta gần như không thể tìm thấy bất kỳ chất Andersen nào trong vở opera "Cô bé Bán Diêm" (2001) của Helmut Lachenmann – một tác phẩm với phần nhạc dài dằng dặc, chói tai và hỗn tạp, giữa nhiều thứ khác được chèn thêm cả bài diễn văn đao to búa lớn chống chủ nghĩa tư bản của nữ khủng bố người Đức Gudrun Ensslin. Ấn tượng hơn nhiều là phần nhạc cho vở ballet đoạt Oscar của nhà soạn nhạc người Anh Brian Easdale viết cho bộ phim nổi tiếng "Đôi giày Đỏ" (1948) của cặp đạo diễn Powell & Pressburger, với những bước nhảy mê hoặc của vũ công Moira Shearer. Bằng lối tư duy pha trộn tài tình, thậm chí sử dụng cả loại nhạc cụ điện tử cổ là ondes martenot, Easdale đã bắt trọn được sự kết hợp chuẩn xác giữa vẻ đẹp cuốn hút và cảm giác bất an ngày một dâng cao – cho dù cái kết với cảnh chặt bỏ bàn chân nhảy múa không ngừng đã được xử lý giảm bớt phần máu me, rùng rợn.

Đâu là cách diễn giải bằng âm nhạc hay nhất về những câu chuyện của Hans Christian Andersen?

Đối với tôi, chỉ có một vài tác phẩm là bắt được cái phép thuật kỳ lạ rất riêng của Andersen. Bản nhạc tiệm cận được điều đó nhất lại đến từ một nhà soạn nhạc ít tên tuổi người Đan Mạch, người luôn đứng bên lề giới học thuật giống như chính Andersen vậy. Đó là August Enna (1859-1939), con trai của một gia đình nhập cư nghèo gốc Sicilia – họ làm nghề thợ giày giống y ông bố của Andersen – và cũng giống như nhà văn, Enna đã trốn thoát khỏi thực tại để bước vào thế giới của nhà hát. Dù đạt được một số thành công nhất định ở Đan Mạch và nước ngoài, các vở opera của ông – với rất nhiều vở dựa trên truyện cổ tích Andersen – lại thường xuyên bị giới tinh hoa âm nhạc lờ đi. Tuy nhiên, vở duy nhất cho đến nay được thu âm, "Cô bé Bán Diêm" (1897), đã hé lộ chân dung của một thiên tài thuộc nhóm thứ yếu với nhãn quan vô cùng sáng sủa, người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Wagner. Âm nhạc của ông mang vẻ đẹp sống động và quyến rũ một cách trực diện giống như nhạc của Humperdinck, nhưng lại không hề bị sa đà vào sáo rỗng, ngọt ngào quá mức. Trong số các nhà soạn nhạc lừng danh thế giới, Stravinsky tỏ ra thành công hơn, đặc biệt là với vở opera thời kỳ đầu đầy biến ảo mang tên "Chim Họa mi" (Le Rossignol), bất chấp sự đa dạng về mặt phong cách của nó; tuy nhiên, vở diễn ra đời sau đó là "Nụ hôn của Bà Chúa tuyết" (Le baiser de la Fée), dù đã tiết chế bớt tính chất sướt mướt trong các chủ đề âm nhạc của Tchaikovsky, lại tự đạt đến một thứ ma lực có phần lạnh lùng, xa cách.

Có lẽ tác phẩm mang đậm chất Andersen nhất trong số tất cả lại là một trong những tác phẩm được phóng tác tự do nhất một cách kỳ lạ: cấy ghép câu chuyện "Nàng Tiên Cá" vào những khu rừng xứ Bohemia (Séc) trong vở opera "Rusalka" (1901) của Dvořák. Nhà viết kịch bản Jaroslav Kvapil đã đưa vào rất nhiều chất liệu riêng của bản thân, nhưng vẫn giữ lại bộ khung kết cấu trung tâm của câu chuyện cổ. Bản thân Dvořák cũng là một kẻ đứng bên lề, và thứ âm nhạc tổn thương đến thắt lòng mà ông tạo ra cho nàng nhân vật chính bị cô lập, cùng với toàn bộ bầu không khí huyền diệu và truyền thuyết tuyệt vời bao bọc lấy nàng trong bản nhạc, chính là tiếng vọng đồng điệu với thứ nghệ thuật chân chính của Andersen.

Liệu Hans Christian Andersen có còn hợp thời trong bối cảnh ngày nay?

Liệu chúng ta ngày nay có còn đón nhận Andersen một cách tích cực? Chúng ta có thể bất lịch sự, coi thường những vở kịch câm hay nhạc của Frank Loesser – nhưng phải chăng ngôn ngữ âm nhạc "nghiêm túc" của thời nay đang quá thiên về lý trí mà hy sinh bớt cảm xúc? Liệu nó có thực sự bắt trọn được thứ ma lực mong manh đầy biến ảo đó hay không? Nếu âm nhạc đương đại chỉ chăm chăm nhấn mạnh vào những góc tối sâu thẳm và sự quằn quại tâm lý trong các câu chuyện, mà đánh mất đi vẻ đẹp bảng lảng đầy chất thơ và sự duyên dáng thanh thoát của chúng, thì đó sẽ là một sự bóp méo, một tấn bi kịch thảm hại không kém gì những thứ mà Hollywood có thể nhào nặn ra. Có lẽ loạt tác phẩm "Truyện cổ tích giao hưởng" và các dự án được đặt hàng khác chính là một lời thách thức, một nỗ lực nhằm tìm lại phần ngây thơ đã mất; và với sự tham gia của các nhà soạn nhạc kiệt xuất, ít nhất chúng ta cũng có quyền hy vọng vào những kết quả đầy thú vị.

 Bayandor Adams đăng trên BBC Music

Ý kiến từ dịch giả: Ở Việt Nam rất nhiều người nhầm lẫn khi gọi các truyện cổ của Andersen là truyện cổ tích. Theo Từ điển Tiếng Việt(Hoàng Phê), truyện cổ là sáng tác văn học thuộc loại tự sự, có từ thời cổ. Truyện của Andersen là truyện cổ như tiêu đề của các ấn bản tuy tín “Truyện Cổ Andersen”.

Còn truyện cổ tích là truyện cổ dân gian phản ánh cuộc đấu tranh trong xã hội, thể hiện tình cảm, đạo đức, mơ ước của nhân dân, về hình thức thường mang nhiều yếu tố thần kì, tượng trưng và ước lệ. Ví dụ tryện “Tấm Cám” là một truyện cổ tích.

3/6/2026

Trịnh Minh Cường dịch từ BBC Music

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

MỘT SỰ THẬT VỀ FERDINAND CARULLI Ở VIỆT NAM

  Nhân ngày sinh của ông 20/2/1770 Với đại đa số những người Việt nam có chút ít hiểu biết về guitar, khi nghe ai đó nói “học guitar cổ điển" thì họ sẽ hỏi ngay: Học giáo trình Carulli à? Đối với họ Carulli (1770-1841) và guitar cũng như Honda và xe máy hay Sony và hàng điện tử vậy. Điều này cũng dễ hiểu nếu đi ngược dòng thời gian một chút. Vào khoảng giữa thế kỷ 20 khi cây guitar bắt đầu xuất hiện ở Việt nam cùng các nhạc cụ phương Tây và dòng tân nhạc, những người học guitar đầu tiên không có giáo trình nào khác ngoài hai cuốn của F. Carulli và M. Carcassi, Carulli có phần được ưa chộng hơn. Rồi họ tiếp tục truyền cho thế hệ sau và quy trình này vẫn tiếp diễn đến tận bây giờ. Hai cuốn giáo trình này đương nhiên hay vì nó tồn tại suốt từ thế kỷ 18 đến giờ không chỉ ở Việt nam. Cuốn giáo trình của F Carulli là cuốn giáo trình đầu tiên trong lịch sử guitar. Từ đó đến nay ngành sư phạm guitar đương nhiên đã thay đổi rất nhiều cùng tiến trình chung của kỹ thuật diễn tấu guitar và ...

BEETHOVEN, BẢN ANH HÙNG CA CỦA SỐ PHẬN

        Khác với không ít  người yêu Beethoven, bản nhạc đầu tiên của ông tôi được nghe không phải là Fur Elise hay Sonata Ánh Trăng mà là Minuet in G trong một bộ phim nào đó: https://youtu.be/wbwUBlYU9eQ?si=4ZzL1EB223VeQzoL    Tất nhiên khi xem phim chưa biết tên cũng như tác giả của bản nhạc. Mãi về sau khi được đi học guitar tình cờ nhận ra thầy mình đang tập bản này và khi đó   mới biết tác giả là Beethoven. Trước khi có cơ hội để thưởng thức âm nhạc của ông nhiều hơn Minuet in G tôi được đọc cuốn sách của A-lơ-svang viết về của đời và sự nghiệp của ông. Đó là khi tôi đang học cấp 2 và cuốn sách đó là một trong những cuốn sách hay nhất tôi từng đọc. Cuốn sách có trích dẫn một số dòng nhạc để minh họa cho các tác phẩm được đề cập. Sau khi học guitar một thời gian tôi tự chơi được các trích dẫn đó và thấy câu chuyện sinh động hẳn lên. Đồng thời tôi cũng ước giá mà được nghe chính những bản nhạc này thì còn tuyệt vời hơn nhiều. Cách đây ít năm...

NĂM NHẠC SƯ LÀM THAY ĐỔI DIỆN MẠO CỦA NHẠC CỔ ĐIỂN PHƯƠNG TÂY

Âm nhạc cổ điển phương Tây có một bề dày lịch sử với nhiều thời kỳ khác nhau. Mỗi thời kỳ đều có những nhạc sĩ lớn với đóng góp quan trọng. Họ là những nhà soạn nhạc, nghệ sĩ biểu diễn hay nhà lý luận. Các tác phẩm hay trình độ diễn tấu điêu luyện của họ đã làm thay đổi quan điểm âm nhạc của thính giả cũng như giới chuyên môn. Do đó, nên âm nhạc luôn được làm mới và phát triển không ngừng. Thính giả dễ dàng ghi nhớ tên tuổi những nhà soạn nhạc và nghệ sĩ nhưng ít ai để ý  những người thầy của họ.  Tạp chí âm nhạc BBC đã đề xuất năm người thầy nổi bật nhất lịch sử âm nhạc cổ điển phương Tây. Xin được giới thiệu năm bậc danh sư này cùng các học trò của họ. 1. Simon Sechter (1788-1867) sinh ra ở Friedberg (Frymburk), Bohemia, sau thành một phần của Đế chế Áo. Năm 1804 ông chuyển đến Vienna. Năm 1810, ông bắt đầu dạy piano và hát tại một học viện dành cho học sinh khiếm thị. Năm 1851 Sechter được bổ nhiệm làm giáo sư sáng tác tại Nhạc viện Vienna. S. Sechter có nhiều sinh viên thà...