Vũ điệu là điệu nhảy, vũ khúc là nhạc để nhảy hoặc theo kiểu nhạc nhảy.
Dưới triều vua Louis XIV, ballet và khiêu vũ phát triển rực rỡ trong sinh hoạt cung đình và tạo ảnh hưởng lớn đến các nước khác. Trên khắp châu Âu, các nhà hát và cung đình đều tuyển dụng các bậc thầy khiêu vũ người Pháp để dạy họ học những vũ điệu thời thượng này. Đó là lý do các kiểu vũ điệu baroque đều bằng tiếng Pháp (menuet, sarabande, bourrée, gavotte, gigue, chaconne, courante, v.v.) Và không chỉ tên các vũ điệu, tên các bước di chuyển trong các vũ điệu baroque cũng bằng tiếng Pháp !
Vì vũ điệu baroque có nghĩa là một vũ điệu cung đình, được biểu diễn trong hoàng cung và các khung cảnh cao cấp khác, nên nó là một loại hình khiêu vũ có cấu trúc cao. Vũ đạo được ấn định và tuân theo các mẫu cụ thể được xác định trước. Thông thường, vũ đạo có các động tác ve vãn cực kỳ phổ biến vào những năm 1600 và 1700. Các bước trong các vũ điệu baroque cũng có tính đối xứng cao và đều đặn, khác rất nhiều so với các vũ điệu hiện đại khuyến khích sự ngẫu hứng và thư giãn.
Hầu hết các hình thức khiêu vũ trong nhạc mục baroque đều có thể được thực hiện solo. Tuy nhiên, ngày xưa các vũ điệu hầu như luôn được thực hiện theo cặp. Vũ điệu Baroque được coi là tiền thân của ballet cổ điển, nhưng không có nghĩa là chúng giống nhau. Ballet nhấn mạnh việc nhón chân, trong khi vũ điệu Baroque thì gắn liền với mặt đất hơn, gót chân chỉ nhấc nhẹ khỏi sàn. Về mặt thẩm mỹ, hai kiểu nhảy múa này cũng khác biệt. Do đặc tính phải theo mẫu, các vũ điệu Baroque thường được mô tả là "cứng nhắc". Và cứng nhắc chắc chắn không phải là điều mà ballet cổ điển nhắm đến! Ballet cổ điển nhấn mạnh nhiều hơn vào sự uyển chuyển, duyên dáng và thanh lịch nhất có thể.
Theo ghi chép lịch sử, có hơn 300 điệu khiêu vũ và biến thể trong nhạc mục baroque. Trong số đó, có 9 vũ điệu được ưa chuộng nhất. Một màn trình diễn vũ điệu baroque được thực hiện theo suite gồm nhiều chương có bản nhạc riêng và một kiểu nhảy cụ thể.
1- Allemande(a-lơ-măng’đ)
Allemande, có nghĩa đen là kiểu Đức, người Đức trong tiếng Pháp, là một vũ điệu baroque bắt nguồn từ Đức. Nó còn có tên khác là alman(d). Đặc trưng của nó là tư thế cơ thể thả lỏng, cử chỉ tay có điểm nhấn và kiểu bước thay đổi. Đây là một vũ điệu khá vui vẻ, sống động theo nhịp hai với nhịp độ vừa phải. Allemande thường là chương đầu tiên trong một tổ khúc baroque. Tuy nhiên, đôi khi trước chương này sẽ là phần khiêu vũ giới thiệu ngắn (prelude) và Allemande sẽ là chương thứ hai.
Ví dụ: Allemande là chương đầu trong Partita BWV 1013 cho flute solo, một tác phẩm độc đáo bậc nhất của J S Bach.
2- Courante(cu-răng’t) hay corrente(cô-ren-tê)
Corrente có nghĩa là chạy trong tiếng Ý. Nó thường xuất hiện sau Allemande trong một suite vũ khúc baroque như chương thứ hai (thứ ba nếu có prelude). Vũ điệu này đúng như tên gọi của nó, đặc trưng bởi một loạt các bước chạy và nhảy. Có hai kiểu courante: Pháp và Ý. Courante Pháp được mô tả là “trang nghiêm và uy nghi” theo nhịp 3. Trong các vũ điệu cung đình Pháp courante chậm nhất. Kiểu Ý ngược lại nhanh và sống động hơn nhiều.
Ví dụ: Courante từ suite đầu tiên cho cello solo BWV 1007 của J S Bach: https://youtu.be/GwDn8eqtinw?si=3X1zXzF-2gTE-2M-
3- Gavotte(ga-vốt)
Gavotte là một vũ điệu Pháp. Tên gavotte liên quan đến người Gavot cư trú ở vùng Pays de Gap ở phía đông nam nước Pháp. Gavotte theo truyền thống được nhảy bởi các đối tác hoặc nhóm các cặp đôi di chuyển theo vòng tròn hoặc đường thẳng. Điệu nhảy này rất lãng mạn và khá phổ biến với các cặp đôi ngày xưa. Ở đầu thời kỳ baroque, điệu nhảy này có thể kết thúc bằng nụ hôn, về sau chuyển thành tặng hoa.
Ví dụ: Gavotte từ English Suite thứ 3 BWV 808 của J S Bach viết cho đàn phím chuyển soạn cho guitar:
4- Menuet(mơ-nuy-ê) hay minuet(mi-niu-ết)
Menuet được coi là một nghi thức thông hành của các cận thần trẻ vào thời đó. Trong số các vũ điệu baroque, menuet có lẽ phổ biến nhất. Tên “Menuet” có lẽ xuất phát từ tên đầy đủ của vũ điệu nhảy là pas menus (“những bước nhảy nhỏ”). Và tên này cũng mô tả chính điệu nhảy. Menuet bao gồm các hình thể lướt nhẹ được dẫn dắt bởi "những bước nhảy nhỏ" vào phách mạnh. Menuet được mô tả là “có kiểm soát, trang trọng và duyên dáng”.
Ví dụ: Menuet trong sello suite thứ 2 BWV 1008:
5- Passepied(pa-x-pi-ê)
Passepied trong tiếng Pháp có nghĩa là "chân đi qua" là một điệu nhảy cung đình nhẹ nhàng của Pháp nhịp ba với các bàn chân di chuyển vào và ra khỏi nhau, do đó mà thành tên. Vũ điệu này có nguồn gốc từ Brittany rồi nhanh chóng lan rộng khắp nước Pháp dưới triều Louis XIV. Trong tiếng Anh, đôi khi nó được đọc là “paspy” hoặc “paspie”, giống như cách phát âm tiếng Pháp của nó.
Bạn sẽ thấy nó trong các cảnh đồng quê của các vở opera và kịch viết vào thế kỷ 18. Passepied có mối liên hệ chặt chẽ với các trang trại và nông dân đến nỗi các vũ công mặc trang phục của những người chăn cừu khi khiêu vũ.
Ví dụ: Paspied từ vở opera Castor et Pollux của J-P Rameau:
6- Bourrée(bu-rê)
Bourrée là một vũ điệu nhịp 2 bắt nguồn từ nhưng người tiều phu ở Auvergne, Pháp. Bourrée hơi giống gavotte nhưng có tiết tấu phức tạp hơn một chút và được đặc trưng bởi một chuỗi bước chân nhanh chóng được gọi là bước bourrée. Có nguồn cho rằng bourrée vốn là vũ điệu của những người tiều phu. Đôi khi nó được gọi là “điệu nhảy guốc kiểu Pháp”do người nhảy đi guốc gỗ để dập mạnh mẽ hơn.
Ví dụ: Bourrée trong suite đầu tiên cho lute BWV 996 của J S Bach
7- Rigaudon(ri-gô-đông)
Người Anh gọi là rigadon hoặc rigadoon, là vũ điệu Pháp có nhịp 2 sống động tương tự như bourrée nhưng rigaudon có tiết tấu đơn giản hơn. Nó là vũ điệu cho cặp đôi gắn liền với các tỉnh Vivarais, Languedoc, Dauphiné và Provence miền nam nước Pháp rồi trở thành một vũ điệu cung đình dưới triều đại của Louis XIV.
Ví dụ: Rigaudon của J-B- Lully:
8- Sarabande(xa-ra-băng’đ)
Sarabande có nguyên bản từ tiếng Tây Ban Nha là zarabanda và là một vũ điệu cung đình Tây Ban Nha với các bước chậm rãi cùng các cử chỉ tô điểm phức tạp của cánh tay. Lịch sử vũ điệu baroque này khá thú vị. Đầu tiên, vũ điệu này do một cô gái người Tây Ban Nha biểu diễn với các động tác khá khêu gợi và hát lời lẽ tán tỉnh đến mức vua Philippe II của Tây Ban Nha đã cấm hẳn vũ điệu này. Về sau vũ điệu này phổ biến trở lại trong cung đình Louis XIV. Biến thể sarabande của Pháp chậm hơn so với kiểu Tây Ban Nha. Người ta kể rằng vì vua Louis XIV quá to lớn và nặng nề nên mọi người phải giảm nhịp độ để ông có thể nhảy cùng. Về sau sarabande còn liên quan đến lễ nghi tang lễ nên nhịp độ của nó càng chậm và chậm nhất trong số các vũ điệu. Thông thường, sarabande được nhảy theo nhịp 3 và có hai phần, phần hai dài hơn phần đầu.
Ví dụ: Sarabande từ suite HWV 437 của G F Handel
9- Gigue(gi’g)
Là vũ điệu Anh theo nhịp 3/8 hoặc 6/8 với nhịp độ nhanh với cấu trúc đa âm. Với nhịp độ nhanh sôi nổi nên thường là chương kết trong một suite. Tên gọi gigue có lẽ bắt nguồn từ một loại nhạc cụ dây là giga hay dùng để đệm khi khiêu vũ.
Ví dụ: Gigue từ partita thứ 3 BWV 1006 cho violin solo của J S Bach:
24/5/2024
Trịnh Minh Cường
Nhận xét
Đăng nhận xét