1. Trong suốt thế kỷ XIX, hầu hết những người yêu âm nhạc chỉ được nghe các tác phẩm giao hưởng lớn qua bản chuyển soạn cho piano. Khi đó, các buổi hòa nhạc giao hưởng khá hiếm, đặc biệt ở ngoài các trung tâm lớn. Lối tiếp cận chính với các tác phẩm quy mô lớn như giao hưởng và opera là tự chơi hoặc nghe các bản chuyển soạn cho piano tại nhà. Các nhà xuất bản đã phát hành nhiều bản chuyển soạn cho piano bốn tay của các bản giao hưởng và những nghệ sĩ nghiệp dư có cơ hội trải nghiệm các tác phẩm giao hưởng lớn trên một cây piano hoặc trên hai cây piano nếu may mắn hơn.
2. Hector
Berlioz đã sáng tác bản Giao hưởng Kỳ ảo(Symphonie Fantastique), một tác phẩm nổi
tiếng với kỹ thuật phối khí điêu luyện, chưa đầy mười năm kể từ lần đầu tiên được
thưởng thức dàn nhạc giao hưởng. Năm 1821 chàng trai ở thành phố miền núi La
Côte-Saint-André đến Paris để học y khoa theo ý bố mẹ dù anh rất có năng khiếu
âm nhạc. Ở kinh đô ánh sánh sáng lần đầu tiên anh được thưởng thức nhạc giao hưởng
rồi chín năm sau anh bắt tay sáng tác kiệt tác để đời của mình – bản Giao hưởng
Kỳ ảo.
3. Các sáng
tác của Vivaldi đã gần như bị quên lãng trong khoảng hai trăm năm. Trong suốt
thời kỳ Cổ điển và Lãng mạn, nhiều tác phẩm của Vivaldi đã bị lãng quên trong
các kho lưu trữ. Ngay cả bộ kiệt tác Bốn Mùa cũng hiếm khi được trình diễn và hầu
như không được biết đến ở dạng nguyên bản trong suốt những năm 1800.
4. Hai bản
giao hưởng số 5 và số 6 của Beethoven được công diễn lần đầu trong cùng một buổi
hòa nhạc hoành tráng. Buổi hòa nhạc này diễn ra tại Vienna vào ngày 22 tháng 12
năm 1808 tại Nhà hát an der Wien và kéo dài bốn giờ. Với tư cách là nhà soạn nhạc,
nhạc trưởng và nghệ sĩ piano độc tấu, Beethoven đã giới thiệu một chương trình
đồ sộ gồm các tác phẩm mới của mình: ngoài hai giao hưởng số 5 và 6, còn có Piano
Concerto số 4, hai chương từ bản Mass Op. 86,
Aria hòa nhạc "Ah! perfido" Op. 65 và Choral Fantasy op. 80.
5. Trong
suốt cuộc đời của hai anh em nhà soạn nhạc Joseph và Michael Haydn, theo một số
tiêu chí thì người em nổi tiếng hơn người
anh. Tất nhiên Joseph Haydn (1732–1809) được
đánh giá cao hơn nhiều cả sinh thời và hậu thế, nhưng trong suốt cuộc đời của cả
hai anh em, người em Johann Michael Haydn (1737–1806) cũng được kính trọng và ngưỡng
mộ không kém. Michael Haydn giữ nhiều chức vụ quan trọng như nhà soạn nhạc cung
đình ở Salzburg, quê hương của Wolfgang Mozart, người đã cùng dàn nhạc của bố
mình trình diễn các tác phẩm của đàn anh và được truyền cảm hứng từ ông.
6. Các
dàn nhạc chuyên nghiệp toàn thời gian như chúng ta biết ngày nay chỉ mới xuất
hiện vào thế kỷ XX. Khái niệm về một dàn nhạc giao hưởng chuyên nghiệp hoạt động
quanh năm với các nhạc công kiếm sống hoàn toàn bằng lương của dàn nhạc, dàn nhạc
được coi như một loại thể chế công cộng mới được phát triển tương đối gần đây. Trong
thế kỷ XVII và XVIII, các dàn nhạc thường hoạt động không thường xuyên hoặc bán
thời gian. Các dàn nhạc cung đình phục vụ theo ý muốn của giới quý tộc; các dàn
nhạc nhà hát opera chỉ biểu diễn trong mùa opera; hằng năm các hiệp hội
"giao hưởng" thường chỉ biểu diễn một số lượng hạn chế các buổi hòa
nhạc. Nhiều nhạc công của dàn nhạc, kể cả những người tài năng nhất, kiếm sống
bằng nhiều công việc khác nhau như giảng dạy, phục vụ nhà thờ, các hợp đồng biểu
diễn tự do, chứ không chỉ dựa vào một ghế
trong một dàn nhạc. Đến cuối thế kỷ XIX, một số thành phố đã thành lập các nhóm
nhạc chuyên nghiệp, nhưng cũng chỉ hoạt động theo mùa. Ví dụ, hai dàn dàn nhạc
Vienna Philharmonic và New York Philharmonic(đều
được thành lập năm 1842) ban đầu chỉ biểu diễn một ít buổi hòa nhạc mỗi năm. Mãi
đến đầu thế kỷ XX, các dàn nhạc mới trở thành những tổ chức ổn định, có lương cho
các thành viên viên và lịch hòa nhạc đều đặn.
7.
Camille Saint-Saëns(1835-1921) là nhà soạn nhạc đầu tiên viết nhạc phim. Năm
1908, nhà soạn nhạc nổi tiếng Saint-Saëns đã sáng tác nhạc cho một bộ phim câm ngắn
có tựa đề L’assassinat du duc de Guise (Vụ ám sát Công tước xứ Guise). Đây là lần
đầu tiên một nhà soạn nhạc danh tiếng thế giới nhận sáng tác nhạc cho một bộ
phim. Trước đó, nhạc nền của các bộ phim thường do các nhạc công ứng tấu tại chỗ.
Trước Saint-Saëns đã có một số nhà soạn nhạc làm việc này nhưng họ không nổi tiếng.
8. Từ nhiều
thế hệ nay, các nghệ sĩ biểu diễn không học thuộc lòng; trên thực tế, việc học
thuộc lòng thậm chí còn bị coi là kiêu căng. Việc yêu cầu các nghệ sĩ phải biểu diễn thuộc
lòng là một quan niệm tương đối mới. Vào thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, ngay cả những nghệ sĩ bậc thầy cũng biểu diễn
cùng bản nhạc, thậm chí đó còn là tiêu chuẩn. Biểu diễn không có bản nhạc là chuyện
bất thường và đôi khi còn bị coi là không chuẩn mực. Nhiều người cho rằng chơi
nhạc thuộc lòng có thể hơi phô trương hoặc thiếu tôn trọng, thậm chí có ý nghĩ
rằng nghệ sĩ đang cố chiếm đoạt tác phẩm đó. Chopin từng khiển trách một học trò đã chơi nhạc thuộc
lòng. Hai nghệ sĩ vĩ đại Franz Liszt và Clara Schumann đã khởi xướng xu hướng
chơi nhạc thuộc lòng vào những năm 1830.
9. Hành
vi vỗ tay sau mỗi tiết mục hòa nhạc thời xưa rất khác, quy tắc "không vỗ
tay giữa các tiết mục" chỉ xuất hiện vào thế kỷ XX. Trong thế kỷ XVII-XVIII,
khán giả có những hành xử làm khán giả
ngày nay ngạc nhiên: họ thường vỗ tay sau thậm chí cả trong chương nhạc mà họ đặc
biệt yêu thích, và việc vỗ tay giữa các chương của một bản giao hưởng hoặc
concerto là chuyện hoàn toàn bình thường. Vào thời của Mozart và Beethoven, nếu
một chương nhạc được đón nhận tích cực, người nghe có thể vỗ tay vang dội và
yêu cầu diễn lại chương đó ngay lập tức. Đến đầu thế kỷ XX, các cẩm nang về
nghi thức hòa nhạc và các nhạc trưởng bắt đầu yêu cầu khán giả không vỗ tay cho
đến khi kết thúc nguyên tác phẩm để không làm gián đoạn tính liên tục của tác
phẩm. Kết quả là các khán giả hiện đại được rèn luyện để kiềm chế bộc lộ cảm
xúc cho đến khi tác phẩm kết thúc, nhưng thực sự đó không phải là cách thưởng
thức nhạc cổ điển theo truyền thống nghệ thuật này.
https://interlude.hk/10-surprising-classical-music-history-facts-that-will-change-how-you-listen/
Trịnh Minh Cường dịch
Nhận xét
Đăng nhận xét