Trong lịch sử âm nhạc, những nhà soạn nhạc nổi bật tuyệt đại đa số là đàn ông. Sự áp đảo của đàn ông khiến người ta nghĩ rằng nhà soạn nhạc là công việc của đàn ông. Nhưng ở thuở hồng hoang của âm nhạc, tên tuổi nổi bật nhất có các sáng tác còn tồn tại đến ngày nay lại là một người phụ nữ.
Trong
một bình chọn 30 nhà soạn nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại, bà đứng
thứ 4 sau J. S. Bach, W. A. Mozart và L. Van Beethoven
Hildegard xứ Bingen(16/9/1098
– 17/9/1179), thánh Hildegard hay Bà đồng sông Rhine, là một tu viện trưởng
dòng Benedictine người Đức. Bà còn là nhà văn, nhà soạn nhạc, nhà triết học,
nhà thần bí Cơ đốc giáo, học giả và người có tầm nhìn xa trông rộng. Bà được
coi là người sáng lập ra môn lịch sử khoa học tự nhiên ở Đức.
Hildegard được các nữ tu
đồng nghiệp bầu làm nữ sư phụ vào năm 1136. Sau đó bà lập các tu viện
Rupertsberg năm 1150 và Eibingen năm 1165. Một trong những tác phẩm âm nhạc của
bà - Ordo Virtutum - là một ví dụ đầu tiên của thể loại kịch phụng vụ và được
cho là vở kịch giáo lý lâu đời nhất còn tồn tại. Bà đã viết về các chủ đề thần
học, thực vật học, y học và các bức thư, các ca khúc phụng vụ và thơ, trong khi
giám sát các diễn giải thu nhỏ trong Bản thảo Rupertsberg cho Scivias, tác phẩm
đầu tiên của bà. Bà cũng được ghi nhận sự phát minh ra một ngôn ngữ cấu trúc gọi
là Lingua Ignota.
Mặc dù lịch sử quan tâm
chính thức của bà rất phức tạp, bà cũng đã được các chi nhánh của Giáo hội Công
giáo La Mã công nhận là một vị thánh trong nhiều thế kỷ. Vào ngày 7 tháng 10
năm 2012, Giáo hoàng Benedict XVI đã phong bà là Tiến sĩ Giáo hội.
Các tác phẩm của
Hildegard bao gồm ba tập lớn về thần học có tầm nhìn xa; một loạt các sáng tác
âm nhạc dùng trong phụng vụ, cùng một vở nhạc kịch giáo lý Ordo Virtutum; một trong những lượng thư từ lớn
nhất (gần 400) còn tồn tại từ thời Trung cổ, được gửi cho những người trao đổi
thư khác nhau, từ giáo hoàng đến hoàng đế cho đến tu viện trưởng và mẹ bề trên,
và cả các ghi chép nhiều bài giảng mà bà đã thuyết pháp trong những năm 1160 và
1170; hai tập tài liệu về thuốc và các phương pháp chữa trị tự nhiên; một ngôn
ngữ mới tạo gọi là Lingua ignota (“ngôn ngữ không xác định”); và các tác phẩm
nhỏ khác nhau, bao gồm một bài chú giải phúc âm và hai tác phẩm về tiểu sử các
Thánh.
Sinh thời một số tác phẩm
của bà đã được xuất bản, bao gồm Bản thảo Rupertsberg diễn giải tác phẩm lớn đầu
tiên của bà - Scivias (đã thất lạc từ năm 1945); Dendermonde Codex có một phiên
bản các tác phẩm âm nhạc của bà; và Bản thảo Ghent, là bản sao trung thực đầu
tiên được thực hiện để hiệu đính tác phẩm thần học cuối cùng của bà - Liber
Divinorum Operum. Vào cuối đời, có lẽ dưới
sự hướng dẫn ban đầu của bà, tất cả các tác phẩm của bà đã được biên tập và hợp
thành Bản thảo Riesenkodex duy nhất.
Trong những thập kỷ gần
đây, sự chú ý đến phụ nữ của Giáo hội thời Trung cổ đã dẫn đến sự quan tâm lớn
của công chúng đối với âm nhạc của Hildegard. Ngoài Ordo Virtutum, 69 tác phẩm
âm nhạc, mỗi tác phẩm có lời thơ nguyên bản riêng, vẫn tồn tại, và ít nhất bốn
phần lời khác được biết đến, mặc dù bản nhạc của chúng đã bị thất lạc. Đây là một
trong những nhạc mục cùng một tác giả lớn nhất trong các nhà soạn nhạc thời
trung cổ.
Một trong những tác phẩm
được biết đến nhiều hơn của bà là Ordo Virtutum (Vở kịch của các đức tính), một
vở kịch giáo lý. Không xác định chính xác thời gian sáng tác một số tác phẩm của
Hildegard, chỉ Ordo Virtutum được cho là được sáng tác sớm nhất vào năm 1151. Vở
kịch giáo lý này bao gồm các ca khúc đơn điệu cho Anima (tâm hồn con người) và
16 Đức tính. Ngoài ra còn có một bè nói cho vai Ác quỷ. Các học giả khẳng định
rằng Volmar sẽ đóng vai Ác quỷ, trong khi các nữ tu của Hildegard sẽ đóng các
vai của Anima và các Đức tính. Vở kịch này có thể coi là một tiền thân đầu tiên
của opera.
Ngoài Ordo Virtutum,
Hildegard còn sáng tác nhiều ca khúc phụng vụ được tập hợp thành một tập gọi là
Symphonia armoniae celestium revelationum( đại ý là Giao hưởng hài hòa của Khải
huyền Thiên đường-ND). Các ca khúc trong Symphonia này có lời của chính
Hildegard và trải dài từ các thánh ca, tụng ca và các thánh ca xê-căng đến các
khúc phụ xướng. Âm nhạc của bà là nhạc đơn điệu, tức là chỉ có duy nhất một bè
giai điệu. Phong cách âm nhạc của bà được đặc trưng bởi những giai điệu cao vút
có thể vượt qua ranh giới của âm vực trầm lắng hơn trong các thánh ca Gregory
truyền thống. Mặc dù âm nhạc của Hildegard thường được cho là đứng ngoài các
thói quen thông thường của các thánh ca đơn điệu, các nhà nghiên cứu hiện nay
cũng đang khám phá những cách mà nó có thể được nhìn nhận so với những người
cùng thời với bà, như Hermannus Contractus chẳng hạn. Một đặc điểm khác trong
âm nhạc của Hildegard là vừa phản ánh những bước tiến của thánh ca trong thế kỷ
XII vừa đẩy những tiến bộ đó đi xa hơn là có tính giai điệu cao hơn, thường có
các thành phần giai điệu lặp lại. Các học giả như Margot Fassler, Marianne
Richert Pfau và Beverly Lomer cũng lưu ý về mối quan hệ mật thiết giữa âm nhạc
và lời trong các sáng tác của Hildegard, những đặc điểm tu từ thường dễ nhận ra
hơn so với các thánh ca phổ biến trong thế kỷ XII. Như với tất cả các ký âm
thánh ca thời Trung cổ, các bản nhạc của Hildegard không có bất kỳ ký hiệu nào
về nhịp độ hoặc tiết tấu; các bản thảo còn sót lại đều ký âm kiểu Đức đời cuối
sử dụng ghi nơm rất cầu kỳ. Sự tôn kính đối với Đức Mẹ Maria Đồng trinh được phản
ánh trong âm nhạc cho thấy Hildegard xứ Bingen và cộng đồng của cô đã chịu ảnh
hưởng và có cảm hứng sâu sắc thế nào đối với Đức Mẹ Maria Đồng Trinh và các vị
thánh. Sự diễn giải viriditas hay "sự xanh tươi" là một diễn đạt nôm
na của thiên đàng trong một sự toàn vẹn vượt qua thuyết nhị nguyên. Sự xanh
tươi hay sức sống này thường xuyên xuất hiện trong các tác phẩm của Hildegard.
Bất chấp quan điểm tự nhận
của Hildegard rằng các tác phẩm của bà có mục đích để ca ngợi Chúa, nhưng một học
giả đã khẳng định rằng Hildegard đã tạo ra mối liên hệ chặt chẽ giữa âm nhạc và
cơ thể phụ nữ trong các tác phẩm âm nhạc của bà. Theo ông, vì vậy thơ và nhạc
trong Symphonia của Hildegard sẽ liên quan đến sự mổ xẻ khao khát của phụ nữ,
do đó được mô tả là có xu hướng đồng giới nữ, hoặc liên quan đến Sappho, liên kết
bà với lịch sử của các nhà hùng biện nữ. Sappho là một nhà thơ nữ Hy Lạp cổ đại
đến từ Eresos hoặc Mytilene trên đảo Lesbos.
Sappho được biết đến với các bài thơ trữ tình, được viết để hát cùng nhạc
đệm. Trong thời cổ đại, Sappho được nhiều người coi là một trong những nhà thơ
trữ tình vĩ đại nhất với nhưng biệt danh như "Nàng thơ thứ mười" và
"Nữ hoàng thơ". Bà viết rất nhiều, tổng cộng khoảng 10 000 dòng. Ngoài thơ ca,bà còn được
biết đến như một biểu tượng của tình yêu và khát khao giữa những người phụ nữ.
Các từ tiếng Anh sapphic và lesbian nghĩa là người đồng tính nữ được lấy từ tên
của chính bà và tên của hòn đảo quê hương bà.
Hildegard xứ Bingen là một
vị thánh, nhà soạn nhạc và nhà thơ người Đức. Nhưng chỉ gần đây, di sản và cuộc
đời bà mới được khám phá lại. Bà sinh ra cách đây hơn 900 năm và trong hơn 80
năm cuộc đời bà đã bị khép kín trong một tu viện trên đỉnh đồi hoang vu ở
Rhineland, Đức. Người phụ nữ khác thường này đã để lại một kho tàng các bản thảo
đã được sáng tỏ, các tác phẩm uyên thâm và những ca khúc viết cho các nữ tu của
bà hát để thể hiện lòng sùng kính của họ.
Âm nhạc tuyệt vời, khẳng
định cuộc sống của bà đã đáp ứng mong mỏi những người chuyên nghiệp trẻ đang
tìm kiếm niềm an ủi và cảm hứng trong một thế giới đầy bạo lực và rắc rối. Và rồi
một bản ghi âm nhạc của Hildegard, A Feather On The Breath Of God, qua giọng nữ
cao tinh khiết của Emma Kirkby và nhóm Gothic Voices, đã thành một album
bestseller vượt cả mong đợi. Ngày nay, chúng ta biết đến Hildegard như một
trong những nhà soạn nhạc đầu tiên trong lịch sử âm nhạc phương Tây có thể xác
định được danh tính, trong khi hầu hết các nhà soạn nhạc thời Trung cổ là “khuyết
danh”. Nhưng không hề ý kiến nào nhắc đến âm nhạc của bà trong bất kỳ cuốn sách
tham khảo nào trước năm 1979 và bà hầu như không chắc được một mục trong ấn bản
năm 1990 của Từ điển Âm nhạc Grove Mới.
Khám phá âm nhạc của Hildegard xứ Bingen
Mối quan tâm đến
Hildegard bắt đầu tăng lên vào khoảng vào năm 1979 kỷ niệm 800 năm ngày mất của
bà, khi Philip Pickett và Nhóm New London Consort(hòa tấu London Mới) của ông
có thể buổi biểu diễn bằng tiếng Anh lần đầu tiên bốn ca khúc của Hildegard. Và
vào năm 1983, thành công của A Feather On The Breath Of God, một album nhạc của
bà, đã khơi gợi sự tò mò của mọi người về tác giả của những ca khúc gợi cảm, sống
độngvà trữ tình này. Giờ đây, có hàng trăm bản ghi âm nhạc của Hildegard, vô số
tiểu sử, chưa kể đến các tiểu thuyết, sử sách, phim tài liệu được ưa chuộng và
các trang web ca ngợi bà như một nhà hoạt động nữ quyền đầu tiên và chuyên gia
của Kỷ nguyên mới. Những tường thuật trong cuộc đời của Hildegard và ngay sau
đó mô tả một người phụ nữ hoàn hảo phi thường: một người nhìn xa trông rộng, một
nhà tiên tri (bà được biết đến với tên “Bà đồng sông Rhine”), một nhà tiên
phong đã viết những cuốn sách thực hành về sinh học, thực vật học, y học, thần
học và nghệ thuật. Bà là người viết rât nhiều thư cho tất cả mọi người, từ những nguồi sám hối
khiêm nhường đang tìm cách sửa mình cho đến các giáo hoàng, các hoàng đế và ông
vua đang tìm kiếm lời khuyên về tâm linh hoặc chính trị.
Khám phá nhà soạn nhạc nữ vĩ đại nhất mọi thời đại
Tính cách của bà đôi khi
rất cứng rắn, cương quyết và độc đoán. Nhưng các nữ tu sĩ trưởng thành dưới chế
độ dị giáo của bà lại được phép tự do khác thường, chẳng hạn như để tóc dài, hở
hang và thậm chí đội vương miện hoa. Tuy
nhiên, Hildegard ra lệnh tôn trọng Giáo hội và các nhà lãnh đạo chính trị thời
đó. Bà là một người hành động: bà giám sát việc xây dựng một tu viện mới ở
Rupertsberg, gần Bingen, để làm nơi cư trú cho cộng đồng nhỏ của bà, và khi nó
phát triển quá lớn, bà thành lập một tu viện khác ở Eibingen, vẫn tồn tại cho đến
ngày nay (mặc dù tòa nhà hiện tại có từ năm 1904 ). Gần đây hơn, Hildegard đã
được nhắc đến trong series phim của Netflix “Những cuộc phiêu lưu lạnh giá của
Sabrina” Hildegard được nhắc đến trong một danh sách dài các phù thủy xuyên suốt
lịch sử (cùng với Anne Boleyn) – nhưng không có bằng chứng nào cho thấy
Hildegard thực sự có bất kỳ sức mạnh ma thuật nào.
Tiểu sử của Hildegard xứ
Bingen
Hildegard sinh 16/9/1098
tại Bermersheim bên sông Rhine và là con thứ mười trong một gia đình quý tộc.
Theo phong tục, người con thứ mười sẽ được hứa với Nhà thờ, vì vậy vào lúc 8 tuổi
(hoặc 14 theo các tài liệu khác nhau), cô bé Hildegard được gửi đến tu viện biệt
lập trên đỉnh đồi Disibodenberg dưới sự chăm sóc của một cô gái lớn hơn, Jutta ở
Sponheim. Cô đã trải qua gần 40 năm ở đó cùng với một số phụ nữ khác thuộc các
gia đình quý tộc, mỗi người được nhốt trong một phòng giam nhỏ bằng đá, hay còn
gọi là “ngôi mộ”, trong một khu vực hạn chế của tu viện, cách xa các tu sĩ.
Trên cương vị viện trưởng
của cộng đồng nhỏ bé này, Jutta đã hướng dẫn Hildegard đọc Thánh vịnh, đọc tiếng
Latinh và thực hành tôn giáo nghiêm ngặt. Trong tiểu sử của Jutta do tu sĩ
Volmar, thư ký của bà, viết sau khi bà qua đời, chúng ta mới biết cuộc sống của
các nữ tu khắc khổ đến mức nào. Chỉ có một cửa sổ duy nhất kết nối họ với thế
giới bên ngoài và họ được phép ăn một bữa ít ỏi mỗi ngày vào mùa đông và hai bữa
vào mùa hè. Họ cầu nguyện đều đặn suốt ngày đêm. Nhìn chung, không ngạc nhiên
khi họ thường xuyên phàn nàn về sự yếu ớt và bệnh tật: Hildegard đã phải chịu đựng
nhiều căn bệnh khác nhau trong suốt cuộc đời và Jutta ngoan đạo đã nhiều lần
suýt chết. Khi Jutta qua đời vào năm 1136, Hildegard được bổ nhiệm làm mẹ bề
trên và đó là lúc bà bắt đầu viết những bản nhạc đầu tiên cho các nữ tu của mình
hát như một phần của Nhiệm vụ Thần thánh. Bài học nhạc duy nhất Hildegard nhận
được từ Jutta là hướng dẫn ca hát và các bổn phận của một nữ tu trong dàn hợp
xướng. Bà đã lớn lên cùng việc nghe những bản thánh ca của thánh lễ La Mã và bà
đã đưa những câu thơ sôi động, đầy màu sắc của riêng mình vào âm nhạc để tạo ra
những tụng ca, những câu đáp, những ca tiếp liên và những bản thánh ca.
Album A Feather On The
Breath Of God
Christopher Page, người
đã dành nhiều thời gian nghiên cứu và biên tập âm nhạc của Hildegard với album
A Feather On The Breath Of God, thừa nhận rằng hoàn cảnh mà bà sáng tác vẫn còn
là một bí ẩn. “Chúng tôi không biết liệu Hildegard đang ngồi và ngâm nga các
bài hát hay có lẽ bà vừa ngâm nga vừa viết chúng ra trên một tấm bảng trắng, phiên
bản cuối cùng về sau được người khác viết trên đá phiến hoặc giấy da,” ông
nói.“Chúng tôi không biết liệu ca từ có trước hay cả ca từ và âm nhạc cùng phát
triển trong một quá trình hữu cơ. Chúng tôi không biết những người giúp việc
nam của nam - các nam thư ký và linh mục - đã tham gia vào việc đó thế nào.
Không có điều nào trong đó rõ ràng cả”.
Hildegard đã có những ảo
ảnh từ khi còn là một cô bé - các nhà bình luận ngày nay, bao gồm cả nhà thần
kinh học Oliver Sacks, cho rằng cô có thể mắc chứng đau nửa đầu - nhưng phải đến
năm 42 tuổi, bà mới có đủ can đảm để nói về chúng với các đồng nghiệp giáo hội
nhà thờ của mình. Bà viết: “Thiên đường đã mở ra và một ánh sáng rực rỡ vô cùng
rực rỡ đã đến và thấm vào toàn bộ bộ não của tôi và đốt cháy toàn bộ trái tim
và toàn bộ lồng ngực của tôi”. Một giọng nói tuyệt vời đã bảo bà hãy chia sẻ những
hiểu biết sâu sắc của mình với thế giới và vào năm 1141, cha tu viện trưởng đã
đồng ý rằng Volmar nên giúp bà ghi lại chúng. Tin tức về những ảo ảnh tiên tri
của Hildegard đã đến tai Giáo hoàng Eugenius III và ông đã cử các đại diện đến
Disibodenburg để lấy bản sao tác phẩm bà đang thực hiện- Scivias. Khi cha tu viện
trưởng của Hildegard thở phào nhẹ nhõm, sau khi đọc nó Giáo hoàng đã chúc phúc
cho sự nghiệp của mẹ bề trên và ra lệnh cho bà tiếp tục viết.
Những cuốn sách của
Hildegard
Scivias, tạm dịch là “Biết
Cách”, phải mất 10 năm mới hoàn thành. Trong ba thập kỷ tiếp theo, bà viết thêm
hai cuốn sách thần học, một cuốn về y học và chữa bệnh tự nhiên, gần 400 lá
thư, và bộ sưu tập âm nhạc và thơ ca tuyệt vời của bà - Symphonia Armonie
Celestium Revelationum. Đây là một tuyển tập gồm 77 bài ca tạo thành một liên ca khúc phụng vụ cho cả năm và một vở nhạc
kịch Ordo Virtutum, một vở kịch đạo đức có chủ đề là cuộc đấu tranh giữa 17 Đức
hạnh và Ác quỷ về số phận của một linh hồn nữ.
“Các sáng tác” của
Hildegard nổi bật so với các âm nhạc phụng vụ khác vì tính chất gần như ngẫu hứng
trong các giai điệu của bà: chúng tự do hơn, có âm vực rộng hơn và công phu hơn
những dòng nhạc đơn giản, một quãng tám theo chủ trương của Bernard of Clairvaux, một cha trưởng tu viện
cùng thời với bà. Việc Hildegard không được đào tạo bài bản về tiếng Latinh có
nghĩa là các văn bản của bà không bị giới hạn bởi các quy ước ngữ pháp; những từ
ngữ chảy thẳng ra khỏi đầu bà như một dòng tư tưởng thần thánh. Với thơ ca tôn
giáo, nó gần như không đứng đắn với sự tươi mát của nó. Trong đó có rất nhiều
hình ảnh đầy màu sắc về thiên nhiên, những thứ có hệ thống – những khu vườn, sự
phát triển, sự màu mỡ, hoa, đồ trang sức. Hãy lấy mô tả này về Đức Mẹ Đồng
Trinh Maria ở Ave, Generosa, gợi lại hình ảnh gợi tình trong “Bài ca của những
bài ca” trong Kinh thánh: “Xác thịt của bạn đã biết đến niềm vui; giống như đồng
cỏ được chạm vào sương và đắm mình trong sự tươi mát của nó: đối với mẹ cũng vậy,
hỡi mẹ của mọi niềm vui.”
Hildegard qua đời ngày
11/9/1179 trong tu viện do bà thành lập ở Rupertsberg, gần Bingen.
Mặc dù bà được biết đến
khắp châu Âu trong thời trung cổ như một nữ chính khách và một nhà tiên tri,
nhưng không có bằng chứng nào cho thấy âm nhạc của bà từng được nghe bên ngoài
tu viện của chính bà. Thật trớ trêu thay, trong tất cả những thành tựu của bà,
chính những sáng tác của bà mới đứng vững trước thử thách của thời gian.
9/8/2023
Nhận xét
Đăng nhận xét