Chuyển đến nội dung chính

HILDEGARD XỨ BINGEN

Trong lịch sử âm nhạc, những nhà soạn nhạc nổi bật tuyệt đại đa số là đàn ông. Sự áp đảo của đàn ông khiến người ta nghĩ rằng nhà soạn nhạc là công việc của đàn ông. Nhưng ở thuở hồng hoang của âm nhạc, tên tuổi nổi bật nhất có các sáng tác còn tồn tại đến ngày nay lại là một người phụ nữ.

Trong một bình chọn 30 nhà soạn nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại, bà đứng thứ 4 sau J. S. Bach, W. A. Mozart và L. Van Beethoven

Hildegard xứ Bingen(16/9/1098 – 17/9/1179), thánh Hildegard hay Bà đồng sông Rhine, là một tu viện trưởng dòng Benedictine người Đức. Bà còn là nhà văn, nhà soạn nhạc, nhà triết học, nhà thần bí Cơ đốc giáo, học giả và người có tầm nhìn xa trông rộng. Bà được coi là người sáng lập ra môn lịch sử khoa học tự nhiên ở Đức.

Hildegard được các nữ tu đồng nghiệp bầu làm nữ sư phụ vào năm 1136. Sau đó bà lập các tu viện Rupertsberg năm 1150 và Eibingen năm 1165. Một trong những tác phẩm âm nhạc của bà - Ordo Virtutum - là một ví dụ đầu tiên của thể loại kịch phụng vụ và được cho là vở kịch giáo lý lâu đời nhất còn tồn tại. Bà đã viết về các chủ đề thần học, thực vật học, y học và các bức thư, các ca khúc phụng vụ và thơ, trong khi giám sát các diễn giải thu nhỏ trong Bản thảo Rupertsberg cho Scivias, tác phẩm đầu tiên của bà. Bà cũng được ghi nhận sự phát minh ra một ngôn ngữ cấu trúc gọi là Lingua Ignota.

Mặc dù lịch sử quan tâm chính thức của bà rất phức tạp, bà cũng đã được các chi nhánh của Giáo hội Công giáo La Mã công nhận là một vị thánh trong nhiều thế kỷ. Vào ngày 7 tháng 10 năm 2012, Giáo hoàng Benedict XVI đã phong bà là Tiến sĩ Giáo hội.

Các tác phẩm của Hildegard bao gồm ba tập lớn về thần học có tầm nhìn xa; một loạt các sáng tác âm nhạc dùng trong phụng vụ, cùng một vở nhạc kịch giáo lý  Ordo Virtutum; một trong những lượng thư từ lớn nhất (gần 400) còn tồn tại từ thời Trung cổ, được gửi cho những người trao đổi thư khác nhau, từ giáo hoàng đến hoàng đế cho đến tu viện trưởng và mẹ bề trên, và cả các ghi chép nhiều bài giảng mà bà đã thuyết pháp trong những năm 1160 và 1170; hai tập tài liệu về thuốc và các phương pháp chữa trị tự nhiên; một ngôn ngữ mới tạo gọi là Lingua ignota (“ngôn ngữ không xác định”); và các tác phẩm nhỏ khác nhau, bao gồm một bài chú giải phúc âm và hai tác phẩm về tiểu sử các Thánh.

Sinh thời một số tác phẩm của bà đã được xuất bản, bao gồm Bản thảo Rupertsberg diễn giải tác phẩm lớn đầu tiên của bà - Scivias (đã thất lạc từ năm 1945); Dendermonde Codex có một phiên bản các tác phẩm âm nhạc của bà; và Bản thảo Ghent, là bản sao trung thực đầu tiên được thực hiện để hiệu đính tác phẩm thần học cuối cùng của bà - Liber Divinorum Operum.  Vào cuối đời, có lẽ dưới sự hướng dẫn ban đầu của bà, tất cả các tác phẩm của bà đã được biên tập và hợp thành Bản thảo Riesenkodex duy nhất.

Trong những thập kỷ gần đây, sự chú ý đến phụ nữ của Giáo hội thời Trung cổ đã dẫn đến sự quan tâm lớn của công chúng đối với âm nhạc của Hildegard. Ngoài Ordo Virtutum, 69 tác phẩm âm nhạc, mỗi tác phẩm có lời thơ nguyên bản riêng, vẫn tồn tại, và ít nhất bốn phần lời khác được biết đến, mặc dù bản nhạc của chúng đã bị thất lạc. Đây là một trong những nhạc mục cùng một tác giả lớn nhất trong các nhà soạn nhạc thời trung cổ.

Một trong những tác phẩm được biết đến nhiều hơn của bà là Ordo Virtutum (Vở kịch của các đức tính), một vở kịch giáo lý. Không xác định chính xác thời gian sáng tác một số tác phẩm của Hildegard, chỉ Ordo Virtutum được cho là được sáng tác sớm nhất vào năm 1151. Vở kịch giáo lý này bao gồm các ca khúc đơn điệu cho Anima (tâm hồn con người) và 16 Đức tính. Ngoài ra còn có một bè nói cho vai Ác quỷ. Các học giả khẳng định rằng Volmar sẽ đóng vai Ác quỷ, trong khi các nữ tu của Hildegard sẽ đóng các vai của Anima và các Đức tính. Vở kịch này có thể coi là một tiền thân đầu tiên của opera.

Ngoài Ordo Virtutum, Hildegard còn sáng tác nhiều ca khúc phụng vụ được tập hợp thành một tập gọi là Symphonia armoniae celestium revelationum( đại ý là Giao hưởng hài hòa của Khải huyền Thiên đường-ND). Các ca khúc trong Symphonia này có lời của chính Hildegard và trải dài từ các thánh ca, tụng ca và các thánh ca xê-căng đến các khúc phụ xướng. Âm nhạc của bà là nhạc đơn điệu, tức là chỉ có duy nhất một bè giai điệu. Phong cách âm nhạc của bà được đặc trưng bởi những giai điệu cao vút có thể vượt qua ranh giới của âm vực trầm lắng hơn trong các thánh ca Gregory truyền thống. Mặc dù âm nhạc của Hildegard thường được cho là đứng ngoài các thói quen thông thường của các thánh ca đơn điệu, các nhà nghiên cứu hiện nay cũng đang khám phá những cách mà nó có thể được nhìn nhận so với những người cùng thời với bà, như Hermannus Contractus chẳng hạn. Một đặc điểm khác trong âm nhạc của Hildegard là vừa phản ánh những bước tiến của thánh ca trong thế kỷ XII vừa đẩy những tiến bộ đó đi xa hơn là có tính giai điệu cao hơn, thường có các thành phần giai điệu lặp lại. Các học giả như Margot Fassler, Marianne Richert Pfau và Beverly Lomer cũng lưu ý về mối quan hệ mật thiết giữa âm nhạc và lời trong các sáng tác của Hildegard, những đặc điểm tu từ thường dễ nhận ra hơn so với các thánh ca phổ biến trong thế kỷ XII. Như với tất cả các ký âm thánh ca thời Trung cổ, các bản nhạc của Hildegard không có bất kỳ ký hiệu nào về nhịp độ hoặc tiết tấu; các bản thảo còn sót lại đều ký âm kiểu Đức đời cuối sử dụng ghi nơm rất cầu kỳ. Sự tôn kính đối với Đức Mẹ Maria Đồng trinh được phản ánh trong âm nhạc cho thấy Hildegard xứ Bingen và cộng đồng của cô đã chịu ảnh hưởng và có cảm hứng sâu sắc thế nào đối với Đức Mẹ Maria Đồng Trinh và các vị thánh. Sự diễn giải viriditas hay "sự xanh tươi" là một diễn đạt nôm na của thiên đàng trong một sự toàn vẹn vượt qua thuyết nhị nguyên. Sự xanh tươi hay sức sống này thường xuyên xuất hiện trong các tác phẩm của Hildegard.

Bất chấp quan điểm tự nhận của Hildegard rằng các tác phẩm của bà có mục đích để ca ngợi Chúa, nhưng một học giả đã khẳng định rằng Hildegard đã tạo ra mối liên hệ chặt chẽ giữa âm nhạc và cơ thể phụ nữ trong các tác phẩm âm nhạc của bà. Theo ông, vì vậy thơ và nhạc trong Symphonia của Hildegard sẽ liên quan đến sự mổ xẻ khao khát của phụ nữ, do đó được mô tả là có xu hướng đồng giới nữ, hoặc liên quan đến Sappho, liên kết bà với lịch sử của các nhà hùng biện nữ. Sappho là một nhà thơ nữ Hy Lạp cổ đại đến từ Eresos hoặc Mytilene trên đảo Lesbos.  Sappho được biết đến với các bài thơ trữ tình, được viết để hát cùng nhạc đệm. Trong thời cổ đại, Sappho được nhiều người coi là một trong những nhà thơ trữ tình vĩ đại nhất với nhưng biệt danh như "Nàng thơ thứ mười" và "Nữ hoàng thơ". Bà viết rất nhiều, tổng cộng  khoảng 10 000 dòng. Ngoài thơ ca,bà còn được biết đến như một biểu tượng của tình yêu và khát khao giữa những người phụ nữ. Các từ tiếng Anh sapphic và lesbian nghĩa là người đồng tính nữ được lấy từ tên của chính bà và tên của hòn đảo quê hương bà.

Hildegard xứ Bingen là một vị thánh, nhà soạn nhạc và nhà thơ người Đức. Nhưng chỉ gần đây, di sản và cuộc đời bà mới được khám phá lại. Bà sinh ra cách đây hơn 900 năm và trong hơn 80 năm cuộc đời bà đã bị khép kín trong một tu viện trên đỉnh đồi hoang vu ở Rhineland, Đức. Người phụ nữ khác thường này đã để lại một kho tàng các bản thảo đã được sáng tỏ, các tác phẩm uyên thâm và những ca khúc viết cho các nữ tu của bà hát để thể hiện lòng sùng kính của họ.

Âm nhạc tuyệt vời, khẳng định cuộc sống của bà đã đáp ứng mong mỏi những người chuyên nghiệp trẻ đang tìm kiếm niềm an ủi và cảm hứng trong một thế giới đầy bạo lực và rắc rối. Và rồi một bản ghi âm nhạc của Hildegard, A Feather On The Breath Of God, qua giọng nữ cao tinh khiết của Emma Kirkby và nhóm Gothic Voices, đã thành một album bestseller vượt cả mong đợi. Ngày nay, chúng ta biết đến Hildegard như một trong những nhà soạn nhạc đầu tiên trong lịch sử âm nhạc phương Tây có thể xác định được danh tính, trong khi hầu hết các nhà soạn nhạc thời Trung cổ là “khuyết danh”. Nhưng không hề ý kiến nào nhắc đến âm nhạc của bà trong bất kỳ cuốn sách tham khảo nào trước năm 1979 và bà hầu như không chắc được một mục trong ấn bản năm 1990 của Từ điển Âm nhạc Grove Mới.

Khám phá âm nhạc của Hildegard xứ Bingen

Mối quan tâm đến Hildegard bắt đầu tăng lên vào khoảng vào năm 1979 kỷ niệm 800 năm ngày mất của bà, khi Philip Pickett và Nhóm New London Consort(hòa tấu London Mới) của ông có thể buổi biểu diễn bằng tiếng Anh lần đầu tiên bốn ca khúc của Hildegard. Và vào năm 1983, thành công của A Feather On The Breath Of God, một album nhạc của bà, đã khơi gợi sự tò mò của mọi người về tác giả của những ca khúc gợi cảm, sống độngvà trữ tình này. Giờ đây, có hàng trăm bản ghi âm nhạc của Hildegard, vô số tiểu sử, chưa kể đến các tiểu thuyết, sử sách, phim tài liệu được ưa chuộng và các trang web ca ngợi bà như một nhà hoạt động nữ quyền đầu tiên và chuyên gia của Kỷ nguyên mới. Những tường thuật trong cuộc đời của Hildegard và ngay sau đó mô tả một người phụ nữ hoàn hảo phi thường: một người nhìn xa trông rộng, một nhà tiên tri (bà được biết đến với tên “Bà đồng sông Rhine”), một nhà tiên phong đã viết những cuốn sách thực hành về sinh học, thực vật học, y học, thần học và nghệ thuật. Bà là người viết rât nhiều thư  cho tất cả mọi người, từ những nguồi sám hối khiêm nhường đang tìm cách sửa mình cho đến các giáo hoàng, các hoàng đế và ông vua đang tìm kiếm lời khuyên về tâm linh hoặc chính trị.

Khám phá nhà soạn nhạc nữ vĩ đại nhất mọi thời đại

Tính cách của bà đôi khi rất cứng rắn, cương quyết và độc đoán. Nhưng các nữ tu sĩ trưởng thành dưới chế độ dị giáo của bà lại được phép tự do khác thường, chẳng hạn như để tóc dài, hở hang và thậm chí đội vương miện hoa.  Tuy nhiên, Hildegard ra lệnh tôn trọng Giáo hội và các nhà lãnh đạo chính trị thời đó. Bà là một người hành động: bà giám sát việc xây dựng một tu viện mới ở Rupertsberg, gần Bingen, để làm nơi cư trú cho cộng đồng nhỏ của bà, và khi nó phát triển quá lớn, bà thành lập một tu viện khác ở Eibingen, vẫn tồn tại cho đến ngày nay (mặc dù tòa nhà hiện tại có từ năm 1904 ). Gần đây hơn, Hildegard đã được nhắc đến trong series phim của Netflix “Những cuộc phiêu lưu lạnh giá của Sabrina” Hildegard được nhắc đến trong một danh sách dài các phù thủy xuyên suốt lịch sử (cùng với Anne Boleyn) – nhưng không có bằng chứng nào cho thấy Hildegard thực sự có bất kỳ sức mạnh ma thuật nào.

Tiểu sử của Hildegard xứ Bingen

Hildegard sinh 16/9/1098 tại Bermersheim bên sông Rhine và là con thứ mười trong một gia đình quý tộc. Theo phong tục, người con thứ mười sẽ được hứa với Nhà thờ, vì vậy vào lúc 8 tuổi (hoặc 14 theo các tài liệu khác nhau), cô bé Hildegard được gửi đến tu viện biệt lập trên đỉnh đồi Disibodenberg dưới sự chăm sóc của một cô gái lớn hơn, Jutta ở Sponheim. Cô đã trải qua gần 40 năm ở đó cùng với một số phụ nữ khác thuộc các gia đình quý tộc, mỗi người được nhốt trong một phòng giam nhỏ bằng đá, hay còn gọi là “ngôi mộ”, trong một khu vực hạn chế của tu viện, cách xa các tu sĩ.

Trên cương vị viện trưởng của cộng đồng nhỏ bé này, Jutta đã hướng dẫn Hildegard đọc Thánh vịnh, đọc tiếng Latinh và thực hành tôn giáo nghiêm ngặt. Trong tiểu sử của Jutta do tu sĩ Volmar, thư ký của bà, viết sau khi bà qua đời, chúng ta mới biết cuộc sống của các nữ tu khắc khổ đến mức nào. Chỉ có một cửa sổ duy nhất kết nối họ với thế giới bên ngoài và họ được phép ăn một bữa ít ỏi mỗi ngày vào mùa đông và hai bữa vào mùa hè. Họ cầu nguyện đều đặn suốt ngày đêm. Nhìn chung, không ngạc nhiên khi họ thường xuyên phàn nàn về sự yếu ớt và bệnh tật: Hildegard đã phải chịu đựng nhiều căn bệnh khác nhau trong suốt cuộc đời và Jutta ngoan đạo đã nhiều lần suýt chết. Khi Jutta qua đời vào năm 1136, Hildegard được bổ nhiệm làm mẹ bề trên và đó là lúc bà bắt đầu viết những bản nhạc đầu tiên cho các nữ tu của mình hát như một phần của Nhiệm vụ Thần thánh. Bài học nhạc duy nhất Hildegard nhận được từ Jutta là hướng dẫn ca hát và các bổn phận của một nữ tu trong dàn hợp xướng. Bà đã lớn lên cùng việc nghe những bản thánh ca của thánh lễ La Mã và bà đã đưa những câu thơ sôi động, đầy màu sắc của riêng mình vào âm nhạc để tạo ra những tụng ca, những câu đáp, những ca tiếp liên và những bản thánh ca.

 

Album A Feather On The Breath Of God

Christopher Page, người đã dành nhiều thời gian nghiên cứu và biên tập âm nhạc của Hildegard với album A Feather On The Breath Of God, thừa nhận rằng hoàn cảnh mà bà sáng tác vẫn còn là một bí ẩn. “Chúng tôi không biết liệu Hildegard đang ngồi và ngâm nga các bài hát hay có lẽ bà vừa ngâm nga vừa viết chúng ra trên một tấm bảng trắng, phiên bản cuối cùng về sau được người khác viết trên đá phiến hoặc giấy da,” ông nói.“Chúng tôi không biết liệu ca từ có trước hay cả ca từ và âm nhạc cùng phát triển trong một quá trình hữu cơ. Chúng tôi không biết những người giúp việc nam của nam - các nam thư ký và linh mục - đã tham gia vào việc đó thế nào. Không có điều nào trong đó rõ ràng cả”.

Hildegard đã có những ảo ảnh từ khi còn là một cô bé - các nhà bình luận ngày nay, bao gồm cả nhà thần kinh học Oliver Sacks, cho rằng cô có thể mắc chứng đau nửa đầu - nhưng phải đến năm 42 tuổi, bà mới có đủ can đảm để nói về chúng với các đồng nghiệp giáo hội nhà thờ của mình. Bà viết: “Thiên đường đã mở ra và một ánh sáng rực rỡ vô cùng rực rỡ đã đến và thấm vào toàn bộ bộ não của tôi và đốt cháy toàn bộ trái tim và toàn bộ lồng ngực của tôi”. Một giọng nói tuyệt vời đã bảo bà hãy chia sẻ những hiểu biết sâu sắc của mình với thế giới và vào năm 1141, cha tu viện trưởng đã đồng ý rằng Volmar nên giúp bà ghi lại chúng. Tin tức về những ảo ảnh tiên tri của Hildegard đã đến tai Giáo hoàng Eugenius III và ông đã cử các đại diện đến Disibodenburg để lấy bản sao tác phẩm bà đang thực hiện- Scivias. Khi cha tu viện trưởng của Hildegard thở phào nhẹ nhõm, sau khi đọc nó Giáo hoàng đã chúc phúc cho sự nghiệp của mẹ bề trên và ra lệnh cho bà tiếp tục viết.

Những cuốn sách của Hildegard

Scivias, tạm dịch là “Biết Cách”, phải mất 10 năm mới hoàn thành. Trong ba thập kỷ tiếp theo, bà viết thêm hai cuốn sách thần học, một cuốn về y học và chữa bệnh tự nhiên, gần 400 lá thư, và bộ sưu tập âm nhạc và thơ ca tuyệt vời của bà - Symphonia Armonie Celestium Revelationum. Đây là một tuyển tập gồm 77 bài ca tạo thành một  liên ca khúc phụng vụ cho cả năm và một vở nhạc kịch Ordo Virtutum, một vở kịch đạo đức có chủ đề là cuộc đấu tranh giữa 17 Đức hạnh và Ác quỷ về số phận của một linh hồn nữ.

“Các sáng tác” của Hildegard nổi bật so với các âm nhạc phụng vụ khác vì tính chất gần như ngẫu hứng trong các giai điệu của bà: chúng tự do hơn, có âm vực rộng hơn và công phu hơn những dòng nhạc đơn giản, một quãng tám theo chủ trương của  Bernard of Clairvaux, một cha trưởng tu viện cùng thời với bà. Việc Hildegard không được đào tạo bài bản về tiếng Latinh có nghĩa là các văn bản của bà không bị giới hạn bởi các quy ước ngữ pháp; những từ ngữ chảy thẳng ra khỏi đầu bà như một dòng tư tưởng thần thánh. Với thơ ca tôn giáo, nó gần như không đứng đắn với sự tươi mát của nó. Trong đó có rất nhiều hình ảnh đầy màu sắc về thiên nhiên, những thứ có hệ thống – những khu vườn, sự phát triển, sự màu mỡ, hoa, đồ trang sức. Hãy lấy mô tả này về Đức Mẹ Đồng Trinh Maria ở Ave, Generosa, gợi lại hình ảnh gợi tình trong “Bài ca của những bài ca” trong Kinh thánh: “Xác thịt của bạn đã biết đến niềm vui; giống như đồng cỏ được chạm vào sương và đắm mình trong sự tươi mát của nó: đối với mẹ cũng vậy, hỡi mẹ của mọi niềm vui.”

Hildegard qua đời ngày 11/9/1179 trong tu viện do bà thành lập ở Rupertsberg, gần Bingen.

Mặc dù bà được biết đến khắp châu Âu trong thời trung cổ như một nữ chính khách và một nhà tiên tri, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy âm nhạc của bà từng được nghe bên ngoài tu viện của chính bà. Thật trớ trêu thay, trong tất cả những thành tựu của bà, chính những sáng tác của bà mới đứng vững trước thử thách của thời gian.

9/8/2023

Trịnh Minh Cường dịch từ classicfm

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

MỘT SỰ THẬT VỀ FERDINAND CARULLI Ở VIỆT NAM

  Nhân ngày sinh của ông 20/2/1770 Với đại đa số những người Việt nam có chút ít hiểu biết về guitar, khi nghe ai đó nói “học guitar cổ điển" thì họ sẽ hỏi ngay: Học giáo trình Carulli à? Đối với họ Carulli (1770-1841) và guitar cũng như Honda và xe máy hay Sony và hàng điện tử vậy. Điều này cũng dễ hiểu nếu đi ngược dòng thời gian một chút. Vào khoảng giữa thế kỷ 20 khi cây guitar bắt đầu xuất hiện ở Việt nam cùng các nhạc cụ phương Tây và dòng tân nhạc, những người học guitar đầu tiên không có giáo trình nào khác ngoài hai cuốn của F. Carulli và M. Carcassi, Carulli có phần được ưa chộng hơn. Rồi họ tiếp tục truyền cho thế hệ sau và quy trình này vẫn tiếp diễn đến tận bây giờ. Hai cuốn giáo trình này đương nhiên hay vì nó tồn tại suốt từ thế kỷ 18 đến giờ không chỉ ở Việt nam. Cuốn giáo trình của F Carulli là cuốn giáo trình đầu tiên trong lịch sử guitar. Từ đó đến nay ngành sư phạm guitar đương nhiên đã thay đổi rất nhiều cùng tiến trình chung của kỹ thuật diễn tấu guitar và ...

NĂM NHẠC SƯ LÀM THAY ĐỔI DIỆN MẠO CỦA NHẠC CỔ ĐIỂN PHƯƠNG TÂY

Âm nhạc cổ điển phương Tây có một bề dày lịch sử với nhiều thời kỳ khác nhau. Mỗi thời kỳ đều có những nhạc sĩ lớn với đóng góp quan trọng. Họ là những nhà soạn nhạc, nghệ sĩ biểu diễn hay nhà lý luận. Các tác phẩm hay trình độ diễn tấu điêu luyện của họ đã làm thay đổi quan điểm âm nhạc của thính giả cũng như giới chuyên môn. Do đó, nên âm nhạc luôn được làm mới và phát triển không ngừng. Thính giả dễ dàng ghi nhớ tên tuổi những nhà soạn nhạc và nghệ sĩ nhưng ít ai để ý  những người thầy của họ.  Tạp chí âm nhạc BBC đã đề xuất năm người thầy nổi bật nhất lịch sử âm nhạc cổ điển phương Tây. Xin được giới thiệu năm bậc danh sư này cùng các học trò của họ. 1. Simon Sechter (1788-1867) sinh ra ở Friedberg (Frymburk), Bohemia, sau thành một phần của Đế chế Áo. Năm 1804 ông chuyển đến Vienna. Năm 1810, ông bắt đầu dạy piano và hát tại một học viện dành cho học sinh khiếm thị. Năm 1851 Sechter được bổ nhiệm làm giáo sư sáng tác tại Nhạc viện Vienna. S. Sechter có nhiều sinh viên thà...

BEETHOVEN, BẢN ANH HÙNG CA CỦA SỐ PHẬN

        Khác với không ít  người yêu Beethoven, bản nhạc đầu tiên của ông tôi được nghe không phải là Fur Elise hay Sonata Ánh Trăng mà là Minuet in G trong một bộ phim nào đó: https://youtu.be/wbwUBlYU9eQ?si=4ZzL1EB223VeQzoL    Tất nhiên khi xem phim chưa biết tên cũng như tác giả của bản nhạc. Mãi về sau khi được đi học guitar tình cờ nhận ra thầy mình đang tập bản này và khi đó   mới biết tác giả là Beethoven. Trước khi có cơ hội để thưởng thức âm nhạc của ông nhiều hơn Minuet in G tôi được đọc cuốn sách của A-lơ-svang viết về của đời và sự nghiệp của ông. Đó là khi tôi đang học cấp 2 và cuốn sách đó là một trong những cuốn sách hay nhất tôi từng đọc. Cuốn sách có trích dẫn một số dòng nhạc để minh họa cho các tác phẩm được đề cập. Sau khi học guitar một thời gian tôi tự chơi được các trích dẫn đó và thấy câu chuyện sinh động hẳn lên. Đồng thời tôi cũng ước giá mà được nghe chính những bản nhạc này thì còn tuyệt vời hơn nhiều. Cách đây ít năm...