Chuyển đến nội dung chính

GUSTAV MAHLER, CUỘC ĐỜI VÀ ÂM NHẠC

 Gustav Mahler sinh ngày 7/7/1860 ở Kaliště (Kalischt), Bohemia và mất ngày  18/5/1911 ở Vienna, Áo.

Sinh thời ông nổi tiếng là một nhạc trưởng hàng đầu thế giới. Mặc dù các sáng tác của ông chưa được các nhà hát ủng hộ hoàn toàn nhưng ông vẫn được coi là một trong những nhà soạn nhạc hậu Lãng mạn quan trọng nhất. Mahler chủ yếu sáng tác giao hưởng và ca khúc nghệ thuật. Tuy nhiên, quan niệm về thể loại của ông đã làm mờ ranh giới giữa ca khúc và dàn nhạc, giao hưởng và giao hưởng thơ.

CUỘC ĐỜI

Gustav Mahler sinh ra trong một gia đình Do Thái gốc Ashkenazi nói tiếng Đức ở Kaliště (Kalischt), Bohemia, vùng sau đó thuộc Đế chế Áo, ngày nay thuộc Cộng hòa Séc. Ashkenazi là một trong dòng tộc chính của người Do Thái sống ở Trung và Đông Âu. Gustav là con thứ hai trong số 14 người con và chỉ có sáu người sống sót. Cha mẹ Gustav sớm chuyển đến Jihlava (Iglau) nơi Gustav đã trải qua thời thơ ấu. Nhận thấy năng khiếu âm nhạc của cậu bé ngay từ khi còn nhỏ, cha mẹ cậu đã cho cậu học piano khi lên sáu.

Năm 1875  khi mười lăm tuổi, Mahler được nhận vào Nhạc viện Vienna và học piano với Julius Epstein, học hòa âm với Robert Fuchs và học sáng tác với Franz Krenn. Ba năm sau, Mahler theo học tại Đại học Vienna nơi Anton Bruckner đang giảng dạy. Ở đó, ông đã nghiên cứu lịch sử và triết học cũng như âm nhạc. Khi còn ở trường đại học, ông làm giáo viên âm nhạc và đã có sáng tác lớn đầu tiên của mình là  cantata Das klagende Lied(bài ca than vãn). Ông đã gửi tác phẩm đến một cuộc thi sáng tác do Johannes Brahms đứng đầu ban giám khảo nhưng không thành công.

Năm 1880, Mahler bắt đầu sự nghiệp chỉ huy của mình tại một nhà hát mùa hè ở Bad Hall. Sau đó, ông lần lượt được nhận việc tại các nhà hát opera lớn hơn: Ljubljana năm 1881, Olomouc năm 1882, Vienna năm 1883, Kassel cũng năm 1883, Praha năm 1885, Leipzig năm 1886 và Budapest năm 1888. Năm 1887, ông tiếp nhận việc chỉ huy vở Der Ring des Nibelungen của Wagner từ đồng nghiệp Arthur Nikisch đang đau ốm và tạo dựng cho mình một danh tiếng vững chắc với giới phê bình cũng như công chúng. Năm sau đó, ông đã giới thiệu phiên bản hoàn chỉnh của vở opera Die drei Pintos của Carl Maria von Weber còn dang dở mà ông đã hoàn tất. Vở diễn đã thành công cả về tài chính lẫn danh tiếng. Brahms đã rất ấn tượng về ông khi chỉ huy vở Don Giovanni của Mozart.  Năm 1891 ông được bổ nhiệm một vị trí dài hạn đầu tiên ở nhà hát Opera Hamburg và ông ở đó đến năm 1897. Trong thời gian ở Hamburg, Mahler đã gặp chuyện buồn khi  người em út của ông là Otto, cũng là một nhà soạn nhạc, đã tự sát vào năm 1895 ở tuổi 21. Từ năm 1893 đến năm 1896, Mahler đi nghỉ hè tại Steinbach am Attersee ở Thượng Áo, nơi ông sửa lại Giao hưởng số 1 (diễn lần đầu năm 1889), viết Giao hưởng số 2, phác thảo Bản giao hưởng số 3 và viết phần lớn tuyển tập Lieder aus "Des Knaben Wunderhorn"(những bài ca từ chiếc sừng thần của cậu bé) dựa trên một tập thơ dân gian nổi tiếng được biên tập lại.

Năm 1897  ở tuổi ba mươi bảy Mahler được mời làm giám đốc của Nhà hát Opera Vienna, vị trí âm nhạc danh giá nhất ở Đế chế Áo. Đây là một nhiệm vụ 'Đế chế' và theo luật Áo-Hung, người Do Thái không được giữ các vị trí này. Mahler, người chưa bao giờ là một người Do Thái sùng đạo hay hành đạo, đã chuẩn bị cải đạo sang Công giáo La Mã. Khi còn nhỏ, ông đã từng là ca sĩ trong hợp xướng của một nhà thờ Công giáo, cũng là nơi ông học piano từ người chỉ huy dàn hợp xướng. Nhiều năm trôi qua, Mahler nhận ra nhiều điều trong Công giáo cuốn hút ông. Và những ảnh hưởng của Công giáo có thể nhận ra trong âm nhạc của ông, chẳng hạn ông đã sử dụng bản thánh ca "Veni Creator Spiritus" trong Giao hưởng thứ tám của mình. Tuy nhiên, cũng có những bằng chứng về tinh thần Do Thái thể hiện trong các tác phẩm của ông, như trong chủ đề như-Klezmer và bố cục của chương ba trong Giao hưởng thứ nhất. Vào năm 1899 và 1910, ông đã chỉ huy các phiên bản sửa đổi Giao hưởng số 2 và 4 của Robert Schumann.

Trong mười năm tại Nhà hát Opera Vienna, Gustav Mahler đã biến đổi các kịch mục của nhà hát và nâng cao tiêu chuẩn nghệ thuật của nó, uốn nắn cả nghệ sĩ biểu diễn và khán giả theo ý chí của ông. Khi ông mới tiếp quản Nhà hát Opera, các tác phẩm được ưa thích nhất là Lohengrin, Manon và Cavalleria Rusticana; nhạc trưởng mới đã tập trung công sức của mình vào các vở opera kinh điển của Christoph Willibald Gluck và Wolfgang Amadeus Mozart, đồng thời cộng tác với họa sĩ Alfred Roller (Brno 1864-Vienna 1935), tạo ra các xuất phẩm mờ ảo đến sững sờ cho các vở Fidelio, Tristan và Isolde, Der Ring des Nibelungen.

Vào thời của Mahler, Vienna là một trong những thành phố lớn nhất thế giới và là kinh đô của Đế chế Áo-Hung, nó cũng là kinh đô của  nghệ thuật và trí tuệ sôi động. Đây là quê hương của các họa sĩ nổi tiếng như Gustav Klimt và Egon Schiele. Mahler quen biết nhiều trí thức và nghệ sĩ như thế.

Gustav Mahler làm việc tại Nhà hát Opera trong chín tháng mỗi năm, ông chỉ rảnh rỗi vào mùa hè để sáng tác tại các  komponierhäuschen(lều sáng tác). Trong những mùa hè này, ông chủ yếu ở Maiernigg bên hồ Wörthersee và trong khung cảnh thô dã yên bình đó, ông đã sáng tác các giao hưởng từ thứ năm đến thứ tám, Những bài ca Rückert(Rückert Lieder) và Những bài ca về cái chết của những đứa trẻ(Kindertotenlieder), cả hai đều dựa trên thơ của Friedrich Rückert và Cú lừa của Der Tamboursg, phần cuối cùng trong những bản phổ thơ 'Des Knaben Wunderhorn' của ông.

Tháng 6 năm 1901, ông chuyển đến một biệt thự mới trên hồ ở Maiernigg, Carinthia. Ngày 9 tháng 3 năm 1902, Mahler kết hôn với Alma Schindler (1879-1964), kém ông hai mươi tuổi và là con gái riêng của họa sĩ nổi tiếng người Vienna Carl Moll. Alma là một nhạc công và nhà soạn nhạc, nhưng Mahler đã cấm cô tham gia vào công việc sáng tạo mặc dù cô đã sao chép rất đẹp các bản thảo của ông. Mahler đã tương tác về mặt sáng tạo với một số phụ nữ, chẳng hạn như nghệ sĩ viola hơn ông hai tuổi Natalie Bauer-Lechner, người ông đã gặp khi học ở Vienna. Nhưng ông trấn an Alma rằng vai trò của bà ta chỉ để đáp ứng các nhu cầu của ông. Alma và Gustav có với nhau hai con gái: Maria Anna ('Putzi'; 1902-1907), mấtt vì bệnh bạch hầu khi mới lên 4 và Anna Justine ('Gucki'; 1904-1988)  sau trở thành một nhà điêu khắc.

Cái chết của con gái đầu lòng khiến Mahler vô cùng đau buồn, nhưng còn những tai ương nữa. Cùng năm đó, bác sĩ Emanuel Libman của Bệnh viện Mount Sinai ở New York chẩn đoán ông mắc bệnh tim (viêm nội tâm mạc nhiễm trùng) và buộc phải hạn chế tập thể dục và phải dùng máy đếm bước chân. Ở Nhà hát, tính cố chấp của ông trong các vấn đề nghệ thuật đã tạo ra những kẻ thù, và ông còn phải chịu sự tấn công ngày càng của các phe bài Do Thái trên báo chí. Vì vậy việc ông từ chức ở Nhà hát Opera vào năm 1907 gần như không nằm ngoài dự đoán.

Chính âm nhạc của Mahler đã gây ra sự phản đối đáng kể từ các nhà phê bình âm nhạc, những người có xu hướng coi các bản giao hưởng của ông là ‘những sự chắp vá’, trong đó các chủ đề từ các thời kỳ và truyền thống "không liên quan" được pha trộn một cách bừa bãi. Sự song hành của Mahler về chất liệu từ cả hai nền văn hóa "cao" và "thấp", cũng như sự pha trộn các truyền thống sắc tộc khác nhau của ông, thường khiến các nhà phê bình bảo thủ phẫn nộ vào thời điểm khi các tổ chức quần chúng của công nhân đang phát triển nhanh chóng và xung đột giữa người Đức, người Séc, người Hungary và người Do Thái ở Áo-Hung đang tạo ra sự lo lắng và bất ổn. Tuy nhiên, bên cạnh ông cũng luôn có những người hâm mộ cuồng nhiệt. Trong những năm cuối đời, Mahler bắt đầu đạt được những thành công lớn với công chúng rộng hơn, đặc biệt là với buổi biểu diễn Giao hưởng thứ Hai ở Munich vào năm 1900, với buổi biểu diễn hoàn chỉnh đầu tiên của bản thứ Ba tại Krefeld năm 1902, với màn trình diễn xuất sắc bản thứ Hai ở Vienna trong 1907, và trên hết là buổi ra mắt bản thứ Tám phi thường ở Munich vào năm 1910. Tuy nhiên âm nhạc ông viết sau đó đã không được biểu diễn trong suốt đời ông.

Động lực cuối cùng khiến Mahler rời khỏi Vienna Opera là một lời đề nghị hào phóng từ Metropolitan Opera ở New York. Ông đã thực hiện cả một mùa diễn năm 1908 ở đó chỉ để là dự bị cho Arturo Toscanini; trong khi ông được công chúng cũng như các nhà phê bình vô cùng yêu thích thì ông lại không được lòng của các thành viên hội đồng quản trị của Met. Năm 1910 khi trở lại châu Âu khi cuộc hôn nhân đang khủng hoảng vì sự không chung thủy của Alma, Mahler đã có một buổi tư vấn duy nhất có vẻ hữu ích với nhà phân tâm học Sigmund Freud.

Khi ký được hợp đồng chỉ huy với dàn nhạc New York Philharmonic lâu đời, Mahler lại cùng gia đình đến Mỹ. Vào thời điểm này, ông đã hoàn thành Bài ca của Trái đất(Das Lied von der Erde)  và Giao hưởng số 9, tác phẩm hoàn chỉnh cuối cùng của ông. Tháng 2 năm 1911, trong một mùa hòa nhạc kéo dài và khắt khe ở New York, Mahler bị ốm nặng do nhiễm trùng máu do liên cầu khuẩn. Ông đã trình diễn lần cuối khi đang sốt cao. Chương trình gồm tác phẩm lần đầu ra mắt thế giới Berceuse élégiaque của Ferruccio Busoni. Trở về châu Âu, ông được đưa đến Paris nơi có một loại huyết thanh mới. Tuy nhiên, ông đã cấm khẩu và được đưa trở về Vienna theo ý nguyện của ông. Ông qua đời ở đó vì nhiễm trùng vào ngày 18 tháng 5 năm 1911 ở tuổi 50, để lại Giao hưởng thứ 10 còn dang dở. Xung quanh Bài ca của Trái đất, người ta cho rằng Mahler tin vào lời nguyển thứ Chín khi các nhà soạn nhạc đều qua đời sau khi hoàn thành giao hưởng thứ chín của họ. Hai ví dụ là L Van Beethoven và A Bruckner. Ông đã nghĩ ra một kế hoạch khéo léo để thoát khỏi lời nguyền này. Sau khi hoàn thành bản giao hưởng thứ tám của mình, Mahler đã viết một tác phẩm về bản chất là một bản giao hưởng dù nó có có cấu trúc khác thường với 1 tenor và 1 alto(hoặc baritone) tham gia cùng dàn nhạc ở vai trò như lĩnh xướng . Nhưng ông đã không đặt tên cho nó là giao hưởng mà gọi là Bài ca của Trái đất(Das Lied von der Erde).  Sau đó, ông đã hoàn thành Giao hưởng thứ chín và đang bắt đầu viết Giao hưởng thứ mười thì qua đời.

Người vợ góa của Mahler kể rằng lời cuối cùng của ông là "Mozartl", từ có hậu tố làm nhỏ có nghĩa là “Mozart bé nhỏ thân yêu”. Theo di nguyện, ông được chôn cất cạnh con gái mình ở Nghĩa trang Grinzing ngoại ô Vienna. Cũng theo di nguyện, ông được chôn cất trong im lặng với bia mộ chỉ ghi "Gustav Mahler" và một tượng đài theo Phong cách Trẻ đơn giản. Bruno Walter, người bạn tốt của Mahler, mô tả về lễ tang: "Vào ngày 18 tháng 5 năm 1911, ông qua đời. Tối hôm sau, khi chúng tôi chuẩn bị hạ quan tại nghĩa trang ở Grinzing, một cơn bão nổi lên và mưa như trút khiến chúng tôi không thể tiếp tục được. Đám đông lặng lẽ theo xe tang. Khi quan tài hạ xuống, mặt trời đã xuyên qua đám mây"(Bruno Walter 1957, 73).

Alma Mahler sống lâu hơn Gustav hơn 50 năm. Trong thời gian họ bên nhau, bà đã tích cực xuất bản tài liệu về cuộc đời và âm nhạc của ông. Tuy nhiên, các mô tả của bà đã bị công kích là không đáng tin cậy, sai sự thật và gây hiểu lầm. Điều này đã trở thành một vấn đề nan giải đến mức nó được các nhà âm nhạc học và sử gia gọi là "Vấn đề Alma". Ví dụ, bà đã giả mạo thư từ của hai người và trong các ấn phẩm của cô ấy, Gustav thường được miêu tả tiêu cực hơn một số nhà sử học mong muốn.

ÂM NHẠC

Mahler thường được công nhận là nhà giao hưởng vĩ đại cuối cùng của Đức. Ông luôn tìm cách mở rộng phạm vi và độ mở của giao hưởng đến mức lớn nhất có thể và ông tin rằng các bản giao hưởng sẽ "thu nhận toàn thế giới". Sự mở rộng phạm vi này có thể được nhận ra không chỉ ở thời lượng của các giao hưởng của ông, mà còn ở sự bùng nổ của biên chế dàn nhạc và ở mục tiêu thẩm mỹ là tác động biểu đạt tối đa. Ông tự coi mình đứng trong hàng ngũ các nhà giao hưởng Vienna  từ Trường phái Vienna thứ Nhất của Haydn, Mozart, Beethoven và Schubert đến các nhà Lãng mạn Bruckner và J. Brahms; ông cũng kết hợp ý tưởng của các nhà soạn nhạc Lãng mạn không phải người Vienna như Robert Schumann và Felix Mendelssohn. Tuy nhiên, ảnh hưởng chính đến sáng tác của ông hoàn toàn không từ một nhà soạn nhạc giao hưởng mà từ R Wagner, theo Mahler là nhà soạn nhạc duy nhất sau Beethoven thực sự có "sự phát triển" trong âm nhạc của ông.

Ngoại trừ một tứ tấu piano thời kỳ đầu, một cantata thời kỳ đầu Das Klagende Lied(Bài ca khóc than), và Totenfeier(Lễ tang), phiên bản giao hưởng thơ đầu tiên của chương một trong Giao hưởng thứ hai, toàn bộ sáng tác của Mahler chỉ bao gồm hai thể loại: giao hưởng và ca khúc nghệ thuật. Bên cạnh chín bản giao hưởng được đánh số hoàn chỉnh, các tác phẩm chính của ông là chùm ca khúc Lieder eines fahrenden Gesellen (thường được dịch là 'Những bài ca của một người lữ hành', nhưng theo nghĩa đen là 'Những bài ca của một gã lang bạt') và Kindertotenlieder (Những bài ca về cái chết của những đứa trẻ ), và một sự kết hợp giữa giao hưởng và liên ca khúc là Das Lied von der Erde (Bài ca của Trái đất).

Tuy nhiên, phần lớn âm nhạc của Mahler thường mở rộng và xóa nhòa ranh giới của những thể loại truyền thống. Ban đầu, ông mô tả Giao hưởng số 1 của mình là "Titan" - một " giao hưởng thơ". Tất cả các giao hưởng thời kỳ đầu tiên đều có nội dung âm nhạc chương trình nhất định, trái ngược với lý tưởng "âm nhạc tuyệt đối" được Eduard Hanslick tán thành và được dẫn chứng bằng các giao hưởng của J. Brahms. Các giao hưởng số 2 đến 4 của Mahler đều sử dụng các ca sĩ lĩnh xướng và kịch bản. Giao hưởng số 8 đã đẩy định nghĩa về giao hưởng đến tới hạn; với 8 ca sĩ lĩnh xướng, các dàn hợp xướng đông người và sự kết hợp của cả chủ đề tôn giáovà thế tục, nó là biểu tượng cho quan niệm bao hàm, tối đa của Mahler về giao hưởng. Ngược lại, Bài ca của trái đất cũng có thể được coi là một bản giao hưởng vì nó là một tác phẩm nhiều chương viết cho dàn nhạc, trừ việc Mahler không chọn nhãn cho nó như thế.

Tinh thần của Lied(ca khúc nhưng nên hiểu là ca khúc nghệ thuật) không ngừng nghỉ trong tác phẩm của ông. Ông đã tiếp bước  Schubert và Schumann trong việc phát triển liên ca khúc, chỉ thay vì viết bè đệm bằng piano thì ông phối khí cho dàn nhạc. Lieder eines fahrenden Gesellen (Những ca khúc của người lữ hành) là một chùm bốn ca khúc được viết với tư cách là một người tình bị cự tuyệt lang thang một mình trên trái đất; Mahler đã tự viết lời lấy cảm hứng từ mối tình bất hạnh của mình với một cô ca sĩ khi ông chỉ huy tại Kassel.

Nhận thức sâu sắc về màu sắc của dàn nhạc, nhà soạn nhạc đã lấp đầy các bản giao hưởng của mình bằng những giai điệu trôi chảy và hòa âm biểu cảm, đạt được phẩm chất âm nhạc tươi sáng bằng cách sử dụng sự rõ ràng của các tuyến giai điệu của mình. Những cách tân khác của ông là sự kết hợp đầy truyền cảm các nhạc cụ ở cả quy mô lớn và nhỏ, tăng cường sử dụng bộ gõ, cũng như kết hợp giọng hát và hợp xướng thành hình thức giao hưởng, và giọng hát  dẫn dắt trong đối âm của ông. Phong cách phối khí của ông dựa trên đối âm; hai giai điệu sẽ nói tiếp nhau gần như đồng thời, chọn độ rõ ràng trên một khối âm thanh.

Thông thường, các tác phẩm của ông liên quan đến tinh thần của ca khúc và vũ điệu của nông dân Áo. Ländler – vũ điệu dân gian Áo, ban đầu phát triển thành điệu minuet và sau đó thành điệu valse - xuất hiện trong một số giao hưởng, cũng như điệu minuet và điệu valse. (Cả ba giai đoạn lịch sử - Ländler, minuet và waltz - đều được thể hiện trong 'chương khiêu vũ' của Giao hưởng số 9).

 Mahler đã kết hợp các ý tưởng của Chủ nghĩa lãng mạn, bao gồm việc sử dụng nhạc chương trình và sử dụng giai điệu ca khúc trong các tác phẩm giao hưởng, với các nguồn lực mà sự phát triển của dàn nhạc giao hưởng đã tạo ra. Kết quả là mở rộng, và cuối cùng phá vỡ, sự hiểu biết về hình thức giao hưởng khi ông tìm cách mở rộng âm nhạc của mình. Ông tuyên bố rằng một bản giao hưởng phải là một "thế giới nguyên khối". Kết quả là, ông gặp những khó khăn trong việc trình bày các tác phẩm của mình và sẽ liên tục sửa đổi các chi tiết trong phối khí của mình đến khi ông hài lòng với hiệu quả của nó.

Ông là người có tâm hồn sâu sắc và rất thường xuyên mô tả âm nhạc của mình dưới dạng tự nhiên. Điều này dẫn đến việc âm nhạc của ông được coi là cực kỳ xúc động trong một thời gian dài sau khi ông qua đời. Ngoài việc không ngừng tìm kiếm những cách mở rộng thể hiện giao hưởng, ông còn là một người nhà nghề nhiệt huyết thể hiện cả ở phương pháp làm việc tỉ mỉ và kế hoạch cẩn thận, cũng như trong nghiên cứu của ông về các nhà soạn nhạc trước đó.

Hòa âm của Mahler đôi khi rất sáng tạo, kéo dài giới hạn của điệu thức thông thường. Tuy nhiên, điệu thức với tư cách là một nguyên tắc biểu cảm và cấu trúc, rõ ràng có tầm quan trọng rất lớn đối với Mahler. Điều này được thể hiện rõ nhất qua cách tiếp cận của ông đối với vấn đề gọi là ‘điệu thức tiến tới’. Trong khi Giao hưởng thứ Nhất của ông rõ ràng có giọng Rê trưởng, thì Bản thứ hai của ông lại 'tiến tới' từ chương đầu tiên giọng Đô thứ đến chương kết giọng Mi giáng trưởng; Bản thứ Ba của ông tiến triển từ chương đầu tiên bắt đầu bằng Rê thứ và kết thúc ở Fa trưởng đến phần cuối kết thúc bằng Rê trưởng - trong khi bản thứ Tư của ông đang ở giọng Sol trưởng thì bị “qua đời” trong một giọng Mi trưởng thanh thản. . Trong lý thuyết hòa âm, kết thúc một sáng tác bằng cách "lên quãng ba" hoặc "xuống quãng ba " giọng được cho là của nó gọi là "mối quan hệ trung âm / hạ trung âm", vì vậy bốn bản giao hưởng đầu tiên của ông tuy vậy lại là thông thường ở một mức độ nào đó: mọi thứ thay đổi ở Giao hưởng thứ Năm; nó di chuyển từ một hành khúc tang lễ Đô thăng thứ, trải qua một chương La thứ đầy xung đột tuyệt vọng, một chương vũ khúc mãnh liệt giọng Rê trưởng, và một chơng Adagietto Fa trưởng trữ tình, đến chương kết thắng lợi giọng Rê trưởng -  – trong khi bản thứ Sáu lại tương phản rất nhiều, bắt đầu bằng La thứ, kết thúc bằng La thứ, và bên cạnh là một chương chậm Mi giáng trưởng cùng  một chương scherzo La thứ. Bản thứ Bảy có điệu thức 'tiến tới' cao, với chương đầu tiên chuyển từ phần mở đầu  Si thứ(hợp lý) sang phần cuối Mi trưởng và một chương kết chỉ định  giọng C trưởng mừng rỡ. Trong Giao hưởng thứ Tám, chủ ý rõ ràng của nhà soạn nhạc đã khiến ông xây dựng một tác phẩm bắt đầu và kết thúc bằng giọng Mi giáng - trong khi bản thứ Chín 'lời từ biệt' chuyển từ chương đầu tiên giọng Rê trưởng sang chương kết giọng Rê giáng trưởng. Bản thứ Mười,  chúng tôi có thể chắc chắn rằng ý đồ về điệu thức cuối cùng của Mahler rất rõ ràng, bắt đầu và kết thúc đều ở giọng Fa thăng trưởng.

CÁC GIAO HƯỞNG

Sáng tác giao hưởng của Mahler nói chung được chia thành ba 'thời kỳ'. 'Thời kỳ đầu tiên', bị chi phối bởi việc ông đọc các bài thơ dân gian Chiếc sừng thần(Wunderhorn), bao gồm bốn bản giao hưởng đầu tiên của ông.  Trong nhóm tác phẩm này, sự giao thoa từ thế giới các ca khúc nghệ thuật kiểu Mahler là yếu tố đáng kể. Giao hưởng số 1 sử dụng ý giai điệu từ một trong Những ca khúc của Lữ khách trong chương đầu tiên và sử dụng một ý giai điệu khác trong trung tâm của chương ba. (Chương ba của Giao hưởng đầu tiên cũng chứa một phiên bản của vòng 'Bruder Martin'(một bài đồng dao-ND) - được biết, trong phiên bản tiếng Pháp là 'Frère Jacques' - được trình bày trong một giọng thứ). Chương ba của Giao hưởng số 2 là phần khuếch đại cho dàn nhạc không có giọng hát và phần mở rộng của một bài hát trong Chiếc sừng thần, tiếp theo là một phần phổ nhạc trên Chiếc sừng thần được hợp nhất hoàn toàn. Chương ba của Giao hưởng số 3 là một bản fantasy khác cho dàn nhạc trên một ca khúc của Chiếc sừng thần, trong khi chương năm là bản phổ nhạc đặc biệt trên Chiếc sừng thần cho bản giao hưởng. Trong Giao hưởng số 4, phần cuối là phổ nhạc trên Chiếc sừng thần đã có từ trước (trước đó được coi là phần kết có thể có của Giao hưởng số 3) và các yếu tố của chúng được lồng vào vào ba chương đầu tiên có tính báo hiệu.

Các bản giao hưởng của 'thời kỳ thứ hai' của Mahler, số 5, 6 và 7, cho thấy tính dữ dội của sự biểu hiện mỗi lúc một tăng và sự quan tâm cũng tăng đối với việc phối khí   phi tiêu chuẩn. Mahler đã sử dụng các nhạc cụ hơi khác thường như kèn post horn (trong Giao hưởng thứ Ba) trong các giao hưởng trước đó của ông.  Tuy nhiên, trong 'thời kỳ thứ hai', việc sử dụng các nhạc cụ phi tiêu chuẩn của ông đã trở nên nổi bật hơn so với cây roi da trong Giao hưởng số 5; chuông bò, chuông sâu và búa trong Giao hưởng số 6; và chuông bò, kèn cornet, kèn horn tenor, đàn mandolin và guitar trong Giao hưởng số 7.

Mặc dù các bản giao hưởng trong 'thời kỳ thứ hai' không có thành phần thanh nhạc, nhưng thế giới ca khúc kiểu Mahler được gợi đến trong chương đầu tiên của bản thứ Năm và chương chậm của bản thứ Sáu, trong đó đọan nhạc từ một ca khúc trong Kindertotenlieder được nghe thấy ngắn gọn, và trong chương kết của bản thứ Năm, kết hợp chất liệu từ bài hát Lob des hohen Verstandes(Ngợi ca trí cao) trong Chiếc sừng thần năm 1896.

'Thời kỳ thứ ba' trong nghệ thuật giao hưởng của Mahler được đánh dấu bằng tinh sphức điệu ngày càng tăng và bao gồm các bản số 8, 9 và 10 (chưa hoàn thành), cũng như Bài ca của Trái đất. Rất khó để chứng minh mối liên hệ đáng tin cậy với các ca khúc độc lập trong các tác phẩm này – có lẽ, không có gì ngạc nhiên, vì các ca khúc phi giao hưởng cuối cùng của Mahler là Kindertotenlieder, được hoàn thành vào năm 1904. Ở trang cuối của Giao hưởng số 9 xuất hiện một ví dụ rất rõ sự hồi tưởng từ Kindertotenlieder số 4 đã có từ lâu, đó là dòng chữ 'The day is fine on yonder heights'(Ngày đẹp trời trên những đỉnh cao kia).

Rất ít nhà soạn nhạc kết nối tùy ý các tác phẩm của họ với nhau một cách trọn vẹn như Gustav Mahler. Người ta có thể nghe thấy các mối liên kết âm nhạc tồn tại giữa các bản giao hưởng này và các bản giao hưởng kia, giữa các bản giao hưởng và các ca khúc, dường như gắn kết chúng lại với nhau thành một 'câu chuyện' lớn hơn. Ví dụ, chất liệu nghe thấy trong Giao hưởng thứ ba tái hiện trong chương kết của Giao hưởng thứ tư. Một giai điệu kèn trumpet từ chương đầu tiên của bản thứ Tư mở đầu cho Giao hưởng thứ năm. Và một tiến hành hòa âm 'bi thảm' được lặp đi lặp lại nhiều lần trong Giao hưởng thứ sáu (một hợp âm trưởng giảm dần thành một thứ) làm tái hiện một cách nổi bật trong Giao hưởng thứ bảy. Tiến hành tương tự có thể được nghe thấy một cách 'tiên tri' ở phần cuối của chương đầu tiên của Giao hưởng thứ hai. Tuyến giai điệu tăng lên từ chương adagietto trong Giao hưởng thứ năm xuất hiện trong chương kết của nó, và một lần nữa ở dạng sửa đổi trong chương kết của Giao hưởng thứ bảy.

Hơn nữa, một chủ đề nghe thấy trong Giao hưởng đầu tiên được trình bày lại trong chương đầu tiên của Bản thứ chín, bản giao hưởng hoàn chỉnh cuối cùng của Mahler.

Nguồn: bach-cantatas.com

6/1/2023

Trịnh Minh Cường dịch

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

MỘT SỰ THẬT VỀ FERDINAND CARULLI Ở VIỆT NAM

  Nhân ngày sinh của ông 20/2/1770 Với đại đa số những người Việt nam có chút ít hiểu biết về guitar, khi nghe ai đó nói “học guitar cổ điển" thì họ sẽ hỏi ngay: Học giáo trình Carulli à? Đối với họ Carulli (1770-1841) và guitar cũng như Honda và xe máy hay Sony và hàng điện tử vậy. Điều này cũng dễ hiểu nếu đi ngược dòng thời gian một chút. Vào khoảng giữa thế kỷ 20 khi cây guitar bắt đầu xuất hiện ở Việt nam cùng các nhạc cụ phương Tây và dòng tân nhạc, những người học guitar đầu tiên không có giáo trình nào khác ngoài hai cuốn của F. Carulli và M. Carcassi, Carulli có phần được ưa chộng hơn. Rồi họ tiếp tục truyền cho thế hệ sau và quy trình này vẫn tiếp diễn đến tận bây giờ. Hai cuốn giáo trình này đương nhiên hay vì nó tồn tại suốt từ thế kỷ 18 đến giờ không chỉ ở Việt nam. Cuốn giáo trình của F Carulli là cuốn giáo trình đầu tiên trong lịch sử guitar. Từ đó đến nay ngành sư phạm guitar đương nhiên đã thay đổi rất nhiều cùng tiến trình chung của kỹ thuật diễn tấu guitar và ...

NĂM NHẠC SƯ LÀM THAY ĐỔI DIỆN MẠO CỦA NHẠC CỔ ĐIỂN PHƯƠNG TÂY

Âm nhạc cổ điển phương Tây có một bề dày lịch sử với nhiều thời kỳ khác nhau. Mỗi thời kỳ đều có những nhạc sĩ lớn với đóng góp quan trọng. Họ là những nhà soạn nhạc, nghệ sĩ biểu diễn hay nhà lý luận. Các tác phẩm hay trình độ diễn tấu điêu luyện của họ đã làm thay đổi quan điểm âm nhạc của thính giả cũng như giới chuyên môn. Do đó, nên âm nhạc luôn được làm mới và phát triển không ngừng. Thính giả dễ dàng ghi nhớ tên tuổi những nhà soạn nhạc và nghệ sĩ nhưng ít ai để ý  những người thầy của họ.  Tạp chí âm nhạc BBC đã đề xuất năm người thầy nổi bật nhất lịch sử âm nhạc cổ điển phương Tây. Xin được giới thiệu năm bậc danh sư này cùng các học trò của họ. 1. Simon Sechter (1788-1867) sinh ra ở Friedberg (Frymburk), Bohemia, sau thành một phần của Đế chế Áo. Năm 1804 ông chuyển đến Vienna. Năm 1810, ông bắt đầu dạy piano và hát tại một học viện dành cho học sinh khiếm thị. Năm 1851 Sechter được bổ nhiệm làm giáo sư sáng tác tại Nhạc viện Vienna. S. Sechter có nhiều sinh viên thà...

BEETHOVEN, BẢN ANH HÙNG CA CỦA SỐ PHẬN

        Khác với không ít  người yêu Beethoven, bản nhạc đầu tiên của ông tôi được nghe không phải là Fur Elise hay Sonata Ánh Trăng mà là Minuet in G trong một bộ phim nào đó: https://youtu.be/wbwUBlYU9eQ?si=4ZzL1EB223VeQzoL    Tất nhiên khi xem phim chưa biết tên cũng như tác giả của bản nhạc. Mãi về sau khi được đi học guitar tình cờ nhận ra thầy mình đang tập bản này và khi đó   mới biết tác giả là Beethoven. Trước khi có cơ hội để thưởng thức âm nhạc của ông nhiều hơn Minuet in G tôi được đọc cuốn sách của A-lơ-svang viết về của đời và sự nghiệp của ông. Đó là khi tôi đang học cấp 2 và cuốn sách đó là một trong những cuốn sách hay nhất tôi từng đọc. Cuốn sách có trích dẫn một số dòng nhạc để minh họa cho các tác phẩm được đề cập. Sau khi học guitar một thời gian tôi tự chơi được các trích dẫn đó và thấy câu chuyện sinh động hẳn lên. Đồng thời tôi cũng ước giá mà được nghe chính những bản nhạc này thì còn tuyệt vời hơn nhiều. Cách đây ít năm...