Chuyển đến nội dung chính

GIOVANNI PIERLUIGI DA PALESTRINA

 Đầu năm là lúc thích hợp để đưa tour âm nhạc về điểm xuất phát sau một năm lang thang trên mọi nẻo đường âm nhạc. Và tôi cũng nhớ ra mình chưa khám phá cuộc đời và sự nghiệp của Giovanni Pierluigi da Palestrina, bậc thầy lớn nhất trong thời bình minh của âm nhạc phương Tây. Và kết quả tìm kiếm cho luôn bài của tiến sĩ Georg Predota, một tác giả yêu thích từ website nhạc cổ điển interlude. hk

Trong lịch sử âm nhạc, danh tiếng của Giovanni Pierluigi da Palestrina (1525-1594) không ai sánh bằng. Trong khi hầu hết các tiền bối và cùng thời của ông dần rơi vào quên lãng thì tên tuổi Palestrina còn được đề cao hơn bao giờ hết trong suốt hai thế kỷ sau khi ông qua đời. Như nhà thần học Lawrence B. Porter đã viết, “Mặc dù tất cả các nhà soạn nhạc vĩ đại của châu Âu trước thời hiện đại đều từng làm việc cho nhà thờ Công giáo, nhưng có thể nói rằng âm nhạc của Palestrina, hơn của bất kỳ ai khác, đã nắm bắt được cảm xúc huyền bí và thành kính đặc trưng của nghi lễ phụng vụ Công giáo.”

Truyền thuyết về Palestrina

Một trong những lý do chính tạo nên danh tiếng lịch sử của ông xuất phát từ truyền thuyết về Palestrina. Người ta kể rằng Công đồng Trent, khi định rõ giáo lý của Giáo hội về các vấn đề phụng vụ và âm nhạc, đã chuẩn bị cấm hoàn toàn nhạc đa âm. Tuy nhiên, khi Palestrina sáng tác bản Missa Papae Marcelli (Bản Thánh lễ Giáo hoàng Marcellus), với âm thanh hoàn hảo, vừa đẹp vừa rõ ca từ thiêng liêng, giới chức Giáo hội đã nhượng bộ ông.

Rõ ràng đây là một truyền thuyết mang tính biểu tượng hơn là một sự kiện lịch sử, nhưng nó nhấn mạnh danh tiếng của Palestrina như một trụ cột trong việc bảo tồn nghệ thuật nhạc hợp xướng đa âm và đảm bảo vị trí của nó trong phụng vụ Công giáo. Trong bối cảnh chia rẽ Công giáo từ phong trào Kháng cách thì Palestrina đã trở thành biểu tượng âm nhạc của "Phong trào Phản cải cách" trong âm nhạc. Nhân dịp kỷ niệm 500 năm ngày sinh của ông, chúng ta hãy cùng điểm lại một số tác phẩm tuyệt vời đã đưa Palestrina trở thành một trong những nhân vật âm nhạc vĩ đại nhất cuối thế kỷ XVI.

Chúng ta không biết chính xác ngày sinh của Palestrina. Tuy nhiên, chúng ta có thể phỏng đoán khá chính xác dựa trên một bài điếu văn đương thời cho biết ông qua đời ở tuổi 68. Vì vậy gần như chắc chắn ông sinh vào khoảng từ ngày 3 tháng 2 năm 1525 đến ngày 2 tháng 2 năm 1526. Ông mang họ theo thị trấn Palestrina, còn được biết đến với tên cổ là “Praeneste”. Các học giả cho rằng thị trấn gần Roma này là nơi ông sinh ra vì gia đình ông đã định cư ở đó vài năm trước khi ông chào đời. Tuy nhiên, cũng có một số bằng chứng cho thấy có thể ông đã sinh ra ở Roma. Mặc dù ngày sinh và nơi sinh của ông chưa xác định chắc chắn, nhưng rõ ràng là Palestrina, người còn có nhiều tên khác, đã được đào tạo âm nhạc từ nhỏ tại Rome. Theo nhà âm nhạc học Lewis Lockwood:“sự nghiệp của ông chủ yếu tập trung ở Roma, nơi ông giữ các vị trí quan trọng trong ba nhà thờ lớn: St Maria Maggiore, St Giovanni Laterano và St Pietro.”

Mặc dù Palestrina được nhà thờ tuyển dụng để làm âm nhạc nhưng không còn tài liệu nào về hoạt động sáng tác ban đầu của ông. Mọi chuyện bắt đầu rõ ràng từ năm 1554 khi ông xuất bản tập nhạc thánh lễ đầu tiên của mình. Điều này rất quan trọng vì đây là ấn phẩm đầu tiên thuộc thể loại này của một nhà soạn nhạc người Ý, trong khi trước đó thể loại thánh lễ chủ yếu là sáng tác của các nhà soạn nhạc người Pháp-Flander. Ấn phẩm này được đề tặng Giáo hoàng Julius III, Giám mục của Palestrina. Trên trang bìa, chúng ta thấy một bức tranh khắc gỗ lớn mô tả nhà soạn nhạc đang quỳ  dâng tác phẩm của mình cho giáo hoàng. Ấn phẩm đầu tiên đó đã nhận được sự công nhận đáng kể và việc đề tặng đã đem lại thành quả. Ngày 13 tháng 1 năm 1555, Palestrina được nhận vào Ca đoàn nhà nguyện Sistine, nhà nguyện âm nhạc chính thức của giáo hoàng.

Palestrina được chứng kiến một sự kiện lịch sử rất quan trọng là Công đồng Trent được triệu tập từ năm 1545 đến năm 1563  để chống lại phong trào kháng cách Tin lành và cải cách giáo hội Công giáo. Cái gọi là "Phản Cải cách" này không trực tiếp đề cập đến âm nhạc mà chỉ đặt ra những nguyên tắc chung. Quan trọng nhất, Công đồng “nhấn mạnh việc loại bỏ các yếu tố thế tục và dâm dục khỏi âm nhạc nhà thờ và muốn làm cho các ca từ thiêng liêng trở nên rõ ràng và dễ hiểu”. Một ủy ban La Mã được thành lập để giám sát các cải cách âm nhạc, và ủy ban này bao gồm Hồng y Carlo Borrommeo, linh mục trưởng tại nhà thờ St Maria Maggiore, và ông đã hợp tác chặt chẽ với Palestrina, bậc thầy âm nhạc nhà nguyện. Và điều này dẫn chúng ta đến điểm xuất phát của truyền thuyết về Palestrina. Chúng ta biết rằng các ca sĩ của Giáo hoàng đã tập hợp vào năm 1565 để đánh giá ca từ cho họ có dễ hiểu hay không, “và bản Missa Papae Marcelli của Palestrina có thể đã được trình diễn trong cuộc họp này.” Vì Palestrina đã sáng tác cho nhà nguyện của Giáo hoàng từ năm 1562, nên chuyện này có vẻ hợp lý. Chính Palestrina đã viết: “Những người trần tục khôn ngoan nhất của chúng ta đã quyết định rằng âm nhạc nên làm tăng thêm sức sống cho việc thờ phượng thần thánh. Nếu người ta đã bỏ nhiều công sức để sáng tác những bản nhạc thế tục hay thì họ cũng nên dành ít nhất chừng đó tâm huyết cho các tác phẩm thánh nhạc.”

Âm thanh Palestrina

Phong cách âm nhạc của Palestrina là hình ảnh thu nhỏ của thánh nhạc đa âm thời Phục Hưng. Với sự rõ ràng, cân bằng và cấu trúc hòa âm có điệu thức trong sáng, ông ưu tiên các âm thuận và tiết kiệm sử dụng các âm nghịch chỉ để tạo hiệu ứng. Các tác phẩm của ông, đặc biệt là các bản thánh lễ và kinh văn ca, thể hiện một dòng chảy tiết tấu bổ sung cho tiết tấu tự nhiên của ca từ phụng vụ tiếng La-tinh. Với nhạc đa âm vốn duy trì sự bình đẳng giữa tất cả các bè, âm nhạc của ông có tính thôi thúc một trải nghiệm tâm linh tập thể. Âm nhạc của Palestrina phản ánh sự kiềm chế cảm xúc, phù hợp với sự tập trung vào chân giá trị và sự chiêm nghiệm mà Phong trào Phản Cải cách đòi hỏi. Thêm vào đó, âm nhạc của Palestrina đã tìm được chỗ đứng trong phương pháp giảng dạy âm nhạc. Tên tuổi của ông gắn liền với "stile antico"(phong cách cũ), phong cách đối âm dị chuyển nghiêm ngặt như nó xuất hiện trong các chuyên luận lý thuyết cho đến tận thế kỷ XX. Trong công trình Gradus ad Parnassum năm 1725 của mình, nhà lý thuyết Johann Joseph Fux đã viết:“Palestrina là ngọn đèn soi sáng lừng lẫy, tôi mang ơn ông vì tất cả những gì tôi biết về nghệ thuật này và tôi sẽ không bao giờ ngừng trân trọng ký ức về ông.” Về sau, Giuseppe Verdi đã bổ sung: “Palestrina là ông vua thực sự của thánh nhạc và là người cha vĩnh cửu của âm nhạc Ý.”

 

Những năm cuối đời

Chuyên gia âm nhạc thời Phục hưng Jessie Ann Owens cho rằng:“Ý nghĩa thực sự của Công đồng Trent đối với âm nhạc La Mã là tác động giải phóng mà nó mang lại cho nhạc mục đã cố định và lạc hậu. Có một cảm giác mạnh mẽ rằng cần có những tác phẩm mới, và những nhà soạn nhạc như Palestrina rất phù hợp để cung cấp chúng.” Sau một thời gian phục vụ riêng, Palestrina trở lại vị trí chỉ huy ca đoàn của Ca đoàn Giulia và ở lại nhà thờ St Pietro cho đến khi qua đời. Trong những năm 1570, Palestrina trải qua nhiều khó khăn khi bị mất người thân trong gia đình vì bệnh dịch hạch, bao gồm cả anh trai và hai con trai. Chính ông cũng bị ốm nặng và Lucrezia vợ ông đã qua đời năm 1580. Ông từng cân nhắc gia nhập hàng ngũ giáo sĩ nhưng đã tái hôn với Virginia Dormoli vào năm 1581. Dormoli là góa phụ của một nhà buôn lông thú người Roma và cuộc hôn nhân này "dường như đã cứu ông thoát khỏi những gánh nặng tài chính do mức lương thấp của chỉ huy hợp xướng trong nhiều năm trời.” Ông tham gia vào công việc kinh doanh của vợ và đầu tư cả bất động sản ở ngoại ô thành phố. Ông vẫn sáng tác và viết rất nhiều đến khi qua đời. Năm 1594, Palestrina qua đời tại Roma vì viêm màng phổi.

Giovanni Pierluigi da Palestrina là một nhà soạn nhạc viết khỏe với 104 bản thánh lễ được xác nhận chắc chắn là của ông, hơn 300 bản kinh văn ca, 68 bản ca tiến lễ, ít nhất 72 bài thánh ca, 35 bản Kinh Đức Mẹ, 11 bản kinh cầu và bốn hoặc năm Khúc ai ca. Ngoài ra ông cũng sáng tác nhạc thế tục với khoảng 140 bản madrigal. Sinh thời Palestrina là nhạc sĩ nổi tiếng, và sau khi qua đời, danh tiếng của ông càng tăng lên vì sức hấp dẫn của âm nhạc của ông kéo dài qua nhiều thế kỷ. Richard Wagner viết rằng: “Những gì chúng ta có trong Palestrina là một hình ảnh gần như vượt thời gian và không gian, một sự mặc khải hoàn toàn thuộc về tinh thần, cuốn hút chúng ta bằng những cảm xúc khó tả, bởi nó đã tạo cho chúng ta ý thức về bản chất sâu thẳm nhất của tôn giáo, thoát khỏi mọi khái niệm hư cấu mang tính giáo điều.”

Nhìn chung, giới nghiên cứu thế kỷ XX và XXI vẫn giữ quan điểm rằng Giovanni Pierluigi da Palestrina là một nhà soạn nhạc mạnh mẽ và tinh tế, âm nhạc của ông đại diện cho một đỉnh cao của kỹ thuật hoàn hảo; đồng thời họ cũng nhấn mạnh rằng một số người cùng thời ông cũng sở hữu những tiếng nói cá nhân không kém phần độc đáo, ngay cả trong khuôn khổ đa âm mượt mà. Việc tiếp thu âm nhạc của Palestrina trong thời hiện đại trở nên phức tạp hơn vì chúng ta dần coi âm nhạc của ông là điều hiển nhiên; điều tương tự cũng đúng với tính cách và con người của ông. Ông không đi nhiều nơi, có hai cuộc hôn nhân dường như bền chặt và êm ấm, và cho đến nay không phát hiện ra bê bối nào. Ông đơn giản là một con người tận hiến cho âm nhạc và cho đức tin của mình.

Nguồn: interlude hk

Chiều thứ Bảy 14/3/2026

Trịnh Minh Cường

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

MỘT SỰ THẬT VỀ FERDINAND CARULLI Ở VIỆT NAM

  Nhân ngày sinh của ông 20/2/1770 Với đại đa số những người Việt nam có chút ít hiểu biết về guitar, khi nghe ai đó nói “học guitar cổ điển" thì họ sẽ hỏi ngay: Học giáo trình Carulli à? Đối với họ Carulli (1770-1841) và guitar cũng như Honda và xe máy hay Sony và hàng điện tử vậy. Điều này cũng dễ hiểu nếu đi ngược dòng thời gian một chút. Vào khoảng giữa thế kỷ 20 khi cây guitar bắt đầu xuất hiện ở Việt nam cùng các nhạc cụ phương Tây và dòng tân nhạc, những người học guitar đầu tiên không có giáo trình nào khác ngoài hai cuốn của F. Carulli và M. Carcassi, Carulli có phần được ưa chộng hơn. Rồi họ tiếp tục truyền cho thế hệ sau và quy trình này vẫn tiếp diễn đến tận bây giờ. Hai cuốn giáo trình này đương nhiên hay vì nó tồn tại suốt từ thế kỷ 18 đến giờ không chỉ ở Việt nam. Cuốn giáo trình của F Carulli là cuốn giáo trình đầu tiên trong lịch sử guitar. Từ đó đến nay ngành sư phạm guitar đương nhiên đã thay đổi rất nhiều cùng tiến trình chung của kỹ thuật diễn tấu guitar và ...

NĂM NHẠC SƯ LÀM THAY ĐỔI DIỆN MẠO CỦA NHẠC CỔ ĐIỂN PHƯƠNG TÂY

Âm nhạc cổ điển phương Tây có một bề dày lịch sử với nhiều thời kỳ khác nhau. Mỗi thời kỳ đều có những nhạc sĩ lớn với đóng góp quan trọng. Họ là những nhà soạn nhạc, nghệ sĩ biểu diễn hay nhà lý luận. Các tác phẩm hay trình độ diễn tấu điêu luyện của họ đã làm thay đổi quan điểm âm nhạc của thính giả cũng như giới chuyên môn. Do đó, nên âm nhạc luôn được làm mới và phát triển không ngừng. Thính giả dễ dàng ghi nhớ tên tuổi những nhà soạn nhạc và nghệ sĩ nhưng ít ai để ý  những người thầy của họ.  Tạp chí âm nhạc BBC đã đề xuất năm người thầy nổi bật nhất lịch sử âm nhạc cổ điển phương Tây. Xin được giới thiệu năm bậc danh sư này cùng các học trò của họ. 1. Simon Sechter (1788-1867) sinh ra ở Friedberg (Frymburk), Bohemia, sau thành một phần của Đế chế Áo. Năm 1804 ông chuyển đến Vienna. Năm 1810, ông bắt đầu dạy piano và hát tại một học viện dành cho học sinh khiếm thị. Năm 1851 Sechter được bổ nhiệm làm giáo sư sáng tác tại Nhạc viện Vienna. S. Sechter có nhiều sinh viên thà...

BEETHOVEN, BẢN ANH HÙNG CA CỦA SỐ PHẬN

        Khác với không ít  người yêu Beethoven, bản nhạc đầu tiên của ông tôi được nghe không phải là Fur Elise hay Sonata Ánh Trăng mà là Minuet in G trong một bộ phim nào đó: https://youtu.be/wbwUBlYU9eQ?si=4ZzL1EB223VeQzoL    Tất nhiên khi xem phim chưa biết tên cũng như tác giả của bản nhạc. Mãi về sau khi được đi học guitar tình cờ nhận ra thầy mình đang tập bản này và khi đó   mới biết tác giả là Beethoven. Trước khi có cơ hội để thưởng thức âm nhạc của ông nhiều hơn Minuet in G tôi được đọc cuốn sách của A-lơ-svang viết về của đời và sự nghiệp của ông. Đó là khi tôi đang học cấp 2 và cuốn sách đó là một trong những cuốn sách hay nhất tôi từng đọc. Cuốn sách có trích dẫn một số dòng nhạc để minh họa cho các tác phẩm được đề cập. Sau khi học guitar một thời gian tôi tự chơi được các trích dẫn đó và thấy câu chuyện sinh động hẳn lên. Đồng thời tôi cũng ước giá mà được nghe chính những bản nhạc này thì còn tuyệt vời hơn nhiều. Cách đây ít năm...