Ferruccio Busoni(1866 – 1924) là con duy nhất của hai nhạc sĩ chuyên nghiệp: mẹ là nghệ sĩ piano người Ý gốc Đức, bố là nghệ sĩ clarinet người Ý. Họ thường đi lưu diễn trong suốt thời thơ ấu của Ferruccio và cậu chủ yếu lớn lên ở Trieste. Ferruccio là một thần đồng khi mới lên 7 đã lần đầu công diễn piano cùng với cha mẹ. Vài năm sau ở Vienna, Ferruccio đã biểu diễn một số sáng tác của chính mình sau khi được nghe Franz Liszt chơi. Nhạc sĩ trẻ còn đượ gặp F. Liszt, Johannes Brahms và Anton Rubinstein. Ferruccio Busoni đã có một thời gian ngắn học ở Graz trước khi đến Leipzig vào năm 1886. Sau đó, ông bắt đầu nhận việc giảng dạy với lần đầu tiên tại Helsinki vào năm 1888 và ở đó ông đã gặp Gerda Sjöstrand sau trở thành vợ ông. Ông giảng dạy ở Moscow vào năm 1890, ở Hoa Kỳ từ năm 1891 đến năm 1894 đồng thời đi lưu diễn một số nơi.
Năm 1894,
ông định cư ở Berlin và tổ chức một chuỗi buổi hòa nhạc trên cương vị nghệ sĩ
piano và nhạc trưởng, ông đặc biệt chú trọng quảng bá âm nhạc đương đại. Ông
cũng giảng dạy trong một số lớp master class tại Weimar, Vienna và Basel, trong
số các học trò ở đó có Claudio Arrau và Egon Petri. Trong Thế chiến I, Busoni đầu
tiên sống ở Bologna và lãnh đạo Nhạc viện ở đó. Sau ông chuyển đến Zürich. Năm 1920 ông trở lại Berlin và dạy các
lớp sáng tác. Một số học trò sáng tác của ông đã trở nên nổi tiếng là Kurt Weill, Edgard Varèse và Stefan Wolpe.
Ferruccio Busoni qua đời ở Berlin vì bệnh thận. Trong nhiều năm sau khi ông qua
đời, phần lớn các sáng tác của ông phần lớn bị lãng quên trừ các bản chuyển soạn
cho piano các sáng tác của J.S. Bach, chủ yếu là các sáng tác cho organ. Khoảng
những năm 1980, các sáng tác gốc của ông mới bắt đầu được quan tâm trở lại.
Trong các bản chuyển soạn cho piano các
sáng tác của J. S. Bach, ông thành công nhất với chương Chaconne từ violin
partita BWV 1004. Với tôi, phiên bản Chaconne cho piano của ông đây không đơn
thuần là bản chuyển soạn, nó thực sự như một sáng tác gốc cho piano với hàm lượng
ý tưởng của ông chiếm tỷ lệ cao hơn bất kỳ phiên bản nào khác, kể cả phiên bản
cho piano của J. Brahms: https://open.spotify.com/track/7w7sfKhegUNAEpARej0cAX?si=804b6d5d05744c2d
Phần lớn
các sáng tác của Busoni dành cho piano. Âm nhạc của Busoni thường phức tạp về mặt
đối âm, với một số tuyến giai điệu kết thúc cùng một lúc. Mặc dù âm nhạc của ông
không bao giờ hoàn toàn vô điệu tính theo nghĩa kiểu Schoenberg, nhưng các sáng
tác về sau của ông thường vô điệu tính. Trong tờ chương trình của buổi ra mắt
bản Sonatina seconda năm 1912, Busoni ghi chú tác phẩm này là senza tonalità(không có điệu tính). Nhiều sáng tác của ông dựa trên âm nhạc từ quá khứ, có thể
vì vậy một số người đã coi ông là người khởi xướng chủ nghĩa tân cổ điển trong
âm nhạc. Ferruccio Busoni là một nghệ sĩ piano điêu luyện và vì thế các sáng tác
cho piano của ông rất khó về kỹ thuật. Piano Concerto của ông(viết năm1904) là tác phẩm
có quy mô lớn nhất của thể loại này. Concerto này gồm 5 chương kéo dài hơn một
tiếng đồng hồ và được viết cho một dàn nhạc lớn cùng dàn hợp xướng nam ở chương
cuối: https://open.spotify.com/album/0A7Q3kXeg6TRUYoSlgIeEM?si=o7aB9qhfSrWIQ0MksS4Tvw
PIANO
CONCERTO OP. 39 CỦA BUSONI NHƯ MỘT GIAO
HƯỞNG
Tôi biết
đến concerto này từ vài năm trước năm 2000 với băng cassette do bác Nguyễn Tâm
chép lại. Khi đó tôi mới bắt đầu được nghe nhạc thường xuyên nên mới bắt đầu được
tiếp cận với các kinh điển phổ biến nhất qua các cuốn băng bác Tâm giới thiệu.
Do đó concerto của Busoni nhanh chóng bị xếp vào đội dự bị, cạnh tranh sao nổi
với Bach, Beethoven, Brahms … Ấn tượng đọng lại khi đó là bản concerto này chiếm
gần hết một cuốn băng 90’. Gần đây tôi
đã nghe lại concerto này trên Spot nhưng do thiếu tập trung nên không cảm nhận
thêm được bao nhiêu ngoài ấn tượng dài, đặc biệt không nhớ được có sự tham gia
của dàn hợp xướng, một thiếu sót đáng xấu hổ. Hôm qua vừa nghe lại bản này mới
nhận ra thiếu sót trên và cảm nhận thêm được nhiều hơn, nhận ra rằng piano
concerto này có quy mô đồ sộ và chất nhạc như một bản giao hưởng.
Ferruccio
Busoni bắt đầu sáng tác bản Piano concerto Đô trưởng, Op. 39 vào năm 1901 dự kiến đề tặng người bạn
William Dayas. Nhưng thật tiếc, người bạn ông đã mất vào năm 1903, một năm trước
khi nhà soạn nhạc hoàn thành tác phẩm. Buổi ra mắt tác phẩm diễn ra tại khán
phòng Beethoven-Saal, Berlin, Đức, vào ngày 10 tháng 11 năm 1904, trong một buổi
thuộc chuỗi hòa nhạc các tác phẩm hiện đại của chính Busoni. Nhà soạn nhạc đảm
nhệm bè độc tấu, nhạc trưởng Karl Muck chỉ huy Dàn nhạc giao hưởng Berlin và
dàn hợp xướng của Nhà thờ tưởng niệm Kaiser Wilhelm. Các đánh giá của giới phê
bình khá trái chiều, có khen có chê, thậm chí cả thù địch hoặc chế nhạo. Một
năm sau, tác phẩm được trình diễn tại Amsterdam do Busoni chỉ huy Dàn nhạc
Concertgebouw cùng Egon Petri là nghệ sĩ độc tấu. Con gái của Dayas là nghệ sĩ
piano Karin đã biểu diễn buổi ra mắt tại
Mỹ vào năm 1932. Sau đó tác phẩm được trình diễn khá ít do cần dàn nhạc lớn với
kết cấu phức tạp, phải thêm dàn hợp xướng nam và bè độc tấu cực kỳ khó. Tuy nhiên, từ những năm 1980, sự
quan tâm đến bản concerto này đã tăng lên đáng kể và nó ngày càng được công nhận
là một trong những tác phẩm vĩ đại, mang tính bước ngoặt và đầy tham vọng nhất
trong thể loại piano concerto.
Concerto
Op. 39 gồm 5 chương chơi liên tục không nghỉ như chỉ định của nhà soạn nhạc, thời
lượng trung bình 70 phút.
1. Prologo
e introito - Allegro dolce e solenne (Mở đầu và giới thiệu. Nhanh êm ái và
trang trọng).
2. Pezzo
giocoso (Phần vui tươi)
Chương
này là một scherzo chủ yếu đòi hỏi bè piano nhẹ nhàng với các tiết tấu và chất
liệu giai điệu mang âm hưởng Ý, tuy nhiên có thể gợi đến nhạc pop Ý nhiều hơn
là nhạc dân gian Ý.
3. Pezzo
serioso (Phần nghiêm trang) gồm 4 phần:
Introductio - Andante sostenuto (Giới thiệu – thong thả
ngân nga)
Prima pars - Andante quasi adagio (Phần thứ nhất, thong
thả gần như chậm)
Altera pars - Sommessamente (Phần thứ hai. Nhỏ nhẹ)
Ultima pars. A tempo (Phần cuối - trở về nhịp độ cũ)
Chương giữa
kéo dài hai mươi phút ở giọng Rê giáng trưởng được chia thành các phần có nhãn
rõ ràng. Đây là một chương sâu lắng và đồ sộ đầy chất giao hưởng với cao trào
trung tâm đầy thách thức kỹ thuật cho nghệ sĩ piano.
4. All'
italiana - Tarantella vivace in un tempo (Theo kiểu Ý, vũ khúc Tarantella sôi nỏi
chắc nhịp)
Chương
này dàn nhạc thể hiện đa dạng nhất cùng bè piano thách thức nhất trong cả tác
phẩm. Có hai đoạn cadenza: một có sẵn trong tổng phổ, một được bổ sung trong phiên
bản cho hai piano.
5. Cantico - Largamente (Vũ khúc nghi lễ - rộng mở )
Chương chậm
kết cùng dàn hợp xướng nam đưa các chủ đề đã xuất hiện trước đó trở về để khép kín
một vòng tròn. Ca từ của hợp xướng từ cảnh cuối của vở kịch thơ
"Aladdin" của Oehlenschläger.
Mời thưởng thức tác phẩm:
https://open.spotify.com/album/0A7Q3kXeg6TRUYoSlgIeEM?si=sNqCbtWFSKiJ9wQw7838Ig
3/5/2023
Nhân đang khám phá Busoni
Trịnh Minh Cường dịch phần tiểu sử từ nguồn bach-cantatas.com
Nhận xét
Đăng nhận xét