Trường âm nhạc là một cơ sở giáo dục chuyên về nghiên cứu, đào tạo và học tập âm nhạc. Cơ sở này cũng có thể được biết đến với các tên gọi như trường âm nhạc, học viện âm nhạc, khoa âm nhạc, trường cao đẳng âm nhạc, bộ môn âm nhạc (của một cơ sở lớn hơn), nhạc viện. Chương trình giảng dạy bao gồm đào tạo về biểu diễn nhạc cụ, thanh nhạc, sáng tác âm nhạc, chỉ huy, kỹ năng âm nhạc, cũng như các lĩnh vực học thuật và nghiên cứu như âm nhạc học, lịch sử âm nhạc và lý thuyết âm nhạc.
Dù âm nhạc
đã phát triển trong hàng nghìn năm nhưng chúng ta chưa có những bằng chứng xác
thực về việc đào tạo âm nhạc đã bắt đầu như thế nào, các hiểu biết về chuyện
này chủ yếu dựa vào suy đoán. Trong truyền thống Kinh thánh, kinh cầu nguyện của
người Do Thái được đệm bằng âm nhạc rất phong phú, nhưng Torah hay Ngũ Kinh lại
không nhắc gì đến việc thực hành và hướng dẫn âm nhạc trong thời kỳ đầu của
Israel. Tuy nhiên, dựa
vào kinh 1 Samuel 10, nhà âm nhạc học Alfred Sendrey(1884-1976) cho rằng chúng
ta có thể hiểu rằng có"sự bùng nổ đột ngột và không thể giải thích được của
các dàn hợp xướng và dàn nhạc lớn, bao gồm các nhóm nhạc được tổ chức và đào tạo
bài bản. Chắc chắn rằng phải có chuẩn bị lâu dài có bài bản mới đạt được điều
này". Điều này đã khiến một số học giả tin rằng nhà tiên tri Samuel là giáo
trưởng của một trường học không chỉ dạy các giáo đồ và những người mộ đạo, mà
còn dạy cả các nhạc sĩ thánh nhạc.
Schola Cantorum(dàn
hợp xướng giáo hoàng) ở Rome có thể là trường âm nhạc đầu tiên được ghi nhận
trong lịch sử, khi Gregory Thầy Cả(540–604) hợp thức hóa một phường hội hiện có
từ thế kỷ IV (schola ban đầu dùng để chỉ phường hội hơn là trường học). Trường
bao gồm các tu sĩ, giáo sĩ thế tục và các cậu bé. Trường Wells Cathedral, Anh,
được thành lập như một Trường Nhà thờ vào năm 909 sau Công nguyên để đào tạo ca
sĩ hợp xướng, ngày nay vẫn tiếp tục đào tạo ca sĩ hợp xướng và dạy nhạc cụ. Tuy
Schola Cantorum đầu tiên do giáo hoàng Sylvester I khai trương, nhưng chính
Giáo hoàng Gregory I mới là người đặt nền móng vững chắc cho trường và bảo trợ
cho nó. Dàn hợp xướng bao gồm từ hai mươi đến ba mươi nam thanh niên hoặc đàn
ông và chỉ những người có kỹ năng ca hát tốt nhất mới được chọn tham gia Schola
Cantorum.
Trường
Saint Martial, từ thế kỷ X đến thế kỷ XII, là một trường dạy sáng tác quan trọng
tại Tu viện Saint Martial, Limoges. Trường này nổi tiếng với việc sáng tác các tố
ca phụ ca(trope), ca tiếp liên(sequence) và đa âm(organum) sơ khai. Về mặt này,
nó là tiền thân quan trọng của Trường Đức Bà(Notre Dame School). Trường Đức Bà(cuối
thế kỷ XII và đầu thế kỷ XIII) đã phát triển nhạc mục đa âm sớm nhất và được
lưu hành quốc tế. Những ghi chép đầu tiên về Trường hợp xướng nam sinh xứ
Montserrat(Escolania de Montserrat) của Tây Ban Nha, một dàn hợp xướng nam sinh
liên kết với một trường âm nhạc có niên đại từ năm 1307.
Thời
Phục hưng
Học viện
Quốc gia Thánh Cecilia(Accademia Nazionale di Santa Cecilia) là một trong những
tổ chức âm nhạc lâu đời nhất trên thế giới. Học viện được thành lập theo sắc lệnh
của Giáo hoàng Sixtus V, Ratione congruit, ban hành năm 1585 và đặt tại Nhà hát
Parco della Musica ở Rome. Việc lập ra học viện này nhằm tôn vinh hai vị thánh
nổi bật trong lịch sử âm nhạc phương Tây: Thánh Cả Gregory-người đã biên soạn
ra bộ tố ca mang tên ngài, và Thánh Cecilia-vị thánh bảo trợ của âm nhạc. Học
viện được thành lập như một hội tôn giáo đã phát triển qua nhiều thế kỷ từ một sân
chơi dành cho các nghệ sĩ và nhà soạn nhạc địa phương trở thành một học viện tầm
quốc tế trong cả lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc, giáo dục âm nhạc và biểu diễn với
dàn hợp xướng và dàn nhạc giao hưởng.
Thế kỷ
XVI-XVIII
Năm 1617 phó
vương De Castro thành lập Nhạc viện Palermo nhưng nhiều thập kỷ việc giảng dạy âm nhạc mới được định hình với
các lớp hát hợp xướng và violin.
Tại thành
phố Napoli, một nhạc viện(conservatorio) là một cơ sở hoàn toàn thế tục chuyên giáo
dục âm nhạc. Trong thế kỷ XVI và XVIII đã có bốn nhạc viện hoạt động ở Napoli:
1- I
poveri di Gesù Cristo ('Những người ăn xin của Chúa Giêsu Kitô') do Marcello
Fossataro thành lập năm 1599. Người sáng lập này đã được ghi nhận trong hồ sơ
chính thức là magister musicæ(nhạc sư) và magister lyræ(thầy đàn lyre) vào năm
1633.
2- Santa
Maria di Loreto được thành lập năm 1535, nơi nhà soạn nhạc quan trọng Giovan
Battista Pergolesi (1710-1736) theo học.
3- La
pietà dei turchini được thành lập năm 1583 và những phát hiện sớm nhất cho thấy
hoạt động âm nhạc diễn ra vào khoảng năm 1615.
4- Sant'Onofrio
a porta Capuana được thành lập năm 1578 và là nhạc viện đầu tiên trên thế giới.
Ở đây, nhà soạn nhạc nổi tiếng Giovanni Paisiello (1740–1816) đã học tập rồi
thành giảng viên.
Còn có thêm một nhạc viện nữa chỉ dành cho nữ gọi là
dell'Annunziata.
Chính tại
những cơ sở này, khái niệm Trường phái Âm nhạc Napoli(Scuola Musicale
Napoletana) được phát triển nhờ công của các nhạc sĩ và nhạc sư Alessandro
Scarlatti (1660–1725), Francesco Durante
(1684–1755, thầy của Pergolesi và Paisiello).
Thế kỷ
XVIII-XIX
Các nhạc
viện ở Napoli nói trên tuyển sinh bằng kỳ thi cạnh tranh và không thu học phí
và trở thành khuôn mẫu cho nhiều nơi khác học theo có chỉnh sửa. Đó là Paris
(1795), Bologna (1804), Milan (1807), Warsaw (1810), Florence và Prague (1811),
Vienna (1821), London (1822), The Hague (1826), Liège (1827). Nga chậm hơn một
thời gian, anh em nhà Rubinstein đã thành lập hai nhạc viện: Anton ở Saint
Petersburg (1862) và Nikolai ở Moscow (1866). Nửa sau của thế kỷ XIX đã chứng
kiến mạng lưới này lan rộng sang châu Mỹ: Rio de Janeiro (1847), Boston (1853),
Baltimore và Chicago (1868), Havana (1885) và Buenos Aires (1893). Vào những
năm 1940, các cơ sở đào tạo chuyên sâu về âm nhạc được tổ chức ở một số quốc
gia châu Á và châu Phi như Iraq, Lebanon và Kenya.
Xét về khía
cạnh học phí, các dự án như El Sistema tỏ ra phù hợp với truyền thống xuất phát
từ Ý, nơi các nhạc viện vẫn miễn phí, hơn các quốc gia nói tiếng Anh, nơi sinh viên không
dễ dàng tiếp cận với học bổng.
Nhận xét
Đăng nhận xét