Chuyển đến nội dung chính

CHUẨN CAO ĐỘ THEO DÒNG LỊCH SỬ

 Việc lên dây hay chỉnh dây với hầu hết người học đàn dây là một điều tất yếu. Các nghệ sĩ có trình độ chuyên nghiệp thường  dùng âm thoa để lấy nốt La chuẩn rồi tự lên các dây. Với các nghệ sĩ nghiệp dư tai thẩm âm chưa được tốt thì đã có sự hỗ trợ của app lên dây và cây đàn của họ có thể hát chuẩn như đàn của thầy chỉ trong một nốt nhạc. Để mọi cây đàn có thể dễ dàng cất tiếng cùng một giọng như ngày nay cũng phải qua mấy thế kỷ nỗ lực của biết bao thế hệ nhạc sĩ và nghệ nhân.

TRƯỚC THẾ KỶ XIX

Suốt từ thời Phục hưng đến Baroque, khái niệm chuẩn cao độ chung chưa hề xuất hiện. Chuẩn cao độ thường thay đổi theo khu vực địa lý, nhà thờ hoặc thậm chí là từng nhạc cụ. Vậy các nhạc sĩ và nghệ nhân chế tác nhạc cụ làm thế nào để các cây đàn của mình có cùng một cao độ? Đàn organ là nguồn tham chiếu quan trọng nhất vì âm nhạc nhà thờ cũng là nơi có nền âm nhạc có trình độ chuyên nghiệp cao nhất. Đàn organ, phải gọi là dàn organ mới thể hiện rõ tầm vóc của nó, là một cố máy cơ khí phức tạp nhất thời đó nên nhạc cụ này được xem là "tiêu chuẩn"cho cả dàn hợp xướng và dàn nhạc. Đây chính là lý do xuất hiện khái niệm cao độ hợp xướng - Chorton – từ ghép của chor là hợp xướng và ton là tông giọng. Đàn harpsichord và clavichord là hai cây đàn phím phát âm bằng dây có kết cấu ổn định cũng là một chuẩn để chỉnh cao độ cho các buổi biểu diễn nhạc thính phòng và điều đó liên quan đến khái niệm cao độ thính phòng – Kammerton. Pitch Pipe là một loại nhạc cụ nhỏ có cấu trúc như một chiếc còi chỉ phát ra một âm thanh duy nhất. Các nhạc sĩ có thể mang theo nó để lấy chuẩn khi không có đàn organ hay harpsichord.

Năm 1619,  nhà lý luận âm nhạc người Đức Michael Praetorius là người đầu tiên trong lịch sử nghiên cứu về vấn đề chuẩn cao độ trong Tập II có tựa đề De Organographia(về các nhạc cụ) trong công trình Syntagma Musicum(luận văn hệ thống âm nhạc) nổi tiếng của ông. Trong Tập II của công trình  Michael Praetorius đã mô tả và vẽ chi tiết hàng loạt các nhạc cụ của thời kỳ ông sống và trong đó có đề cập về vấn đề chuẩn cao độ.

Năm 1711 đã có một cuộc cách mạng nhỏ nhưng cực kỳ quan trọng trong lịch sử âm nhạc khi John Shore (1662–1752) phát minh ra âm thoa(Tuning Fork). Ông là một nghệ sĩ trumpet và  lute người Anh phục vụ cho cung đình Nữ hoàng Anne. Âm thoa có kích thước nhỏ gọn và âm thanh rất ổn định đã nhanh chóng trở thành một công cụ quan trọng của các nhạc sĩ và nghệ nhân chế tác nhạc cụ. Tuy nhiên vẫn chưa hết chuyện vì cao độ của âm thoa vẫn khác nhau tùy theo địa phương và quan niệm. Dù sao cũng phổ biến hai chuẩn chính là cao độ hợp xướng Chorton và cao độ thính phòng Kammerton nói trên. Chorton thường lại cao hơn Kammerton gây ra không ít khó khăn khi các nhạc sĩ biểu diễn cùng nhau. Để các nhạc cụ và giọng hát có thể hòa cùng được với đàn organ, các nhạc sĩ buộc phải chuyển giọng các sáng tác. Ví dụ, một bản nhạc được viết ở giọng Đô trưởng cho đàn organ phải được chơi ở giọng Rê trưởng trên các nhạc cụ khác để chúng hát lên ở cùng một cao độ. Điều này cho thấy kỹ năng của các nhạc công thời đó rất cao, họ phải điều chỉnh và tính toán liên tục để đảm bảo sự hòa hợp, một điều mà các nhạc sĩ hiện đại không bao giờ phải bận tâm.

Theo ước tính, cao độ nốt La của Kammerton bằng khoảng 415 Hz đến 420 Hz, tức thấp hơn chuẩn La 440 Hz ngày nay khoảng nửa cung, còn cao độ nốt La của Chorton bằng khoảng 460 Hz đến 465 Hz, tức là cao hơn nốt La ngày nay khoảng một cung(2 nửa cung). Các thông số ước tính này rất quan trọng với các nhạc sĩ biểu diễn muốn tái hiện chân thực nhất thanh âm của âm nhạc thời cổ.

 THẾ KỶ XIX NHỮNG NỖ LỰC ĐẦU TIÊN

Sự phát triển của dàn nhạc giao hưởng và các buổi hòa nhạc công cộng đã phát sinh nhu cầu cấp thiết về một chuẩn cao độ chung.

Năm 1859, chính phủ Pháp chính thức thông qua chuẩn nốt La = 435 Hz gọi là diapason normal. Đây được xem là nỗ lực đầu tiên của một chính phủ nhằm thiết lập một chuẩn cao độ chính thức.

 Năm 1885, một hội nghị quốc tế tại Vienna đã nhất trí lấy nốt La = 435 Hz làm chuẩn cao độ cho châu Âu.

THẾ KỶ XX

Sau nhiều tranh luận và thử nghiệm, một chuẩn cao độ mới đã được đề xuất để thay thế.

Năm 1939, một hội nghị quốc tế tại London đã đề xuất một chuẩn mới La = 440 Hz. Mặc dù bị một số phản đối, chuẩn này đã nhanh chóng được chấp nhận rộng rãi.

Năm 1955,  Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) chính thức ban hành chuẩn La = 440 Hz làm chuẩn cao độ quốc tế - ISO 16. Đây là cột mốc quan trọng nhất về mức toàn cầu của chuẩn cao độ.

Nhưng sự thiếu thống nhất vẫn là một bản chất cố hữu của loài người nên dù đã có có ISO 16, chuẩn cao độ cũng như các chuẩn đo lường khác vẫn mỗi nơi một kiểu. Tất nhiên ai cũng có lý do riêng của mình. Ví dụ một số dàn nhạc giao hưởng vẫn sử dụng cao độ cao hơn ISO 16 một chút, như La = 442 Hz, để âm thanh sáng hơn, và các dàn nhạc biểu diễn trên nhạc cụ cổ thường sử dụng lại các chuẩn thấp hơn, như La = 415 Hz, để tái hiện âm thanh nguyên bản.

Còn một số chuẩn riêng nữa:

La = 442 Hz: Phổ biến ở nhiều quốc gia châu Âu, đặc biệt là Đức và Áo.

La = 444 Hz: Đôi khi được sử dụng để tạo ra âm thanh thậm chí còn sáng hơn nữa.

La = 415 Hz: Được sử dụng cho các buổi hòa nhạc cổ điển biểu diễn bằng nhạc cụ nguyên bản, vì nó gần với cao độ của thời kỳ Baroque.

21/9/2025

Trịnh Minh Cường

 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

MỘT SỰ THẬT VỀ FERDINAND CARULLI Ở VIỆT NAM

  Nhân ngày sinh của ông 20/2/1770 Với đại đa số những người Việt nam có chút ít hiểu biết về guitar, khi nghe ai đó nói “học guitar cổ điển" thì họ sẽ hỏi ngay: Học giáo trình Carulli à? Đối với họ Carulli (1770-1841) và guitar cũng như Honda và xe máy hay Sony và hàng điện tử vậy. Điều này cũng dễ hiểu nếu đi ngược dòng thời gian một chút. Vào khoảng giữa thế kỷ 20 khi cây guitar bắt đầu xuất hiện ở Việt nam cùng các nhạc cụ phương Tây và dòng tân nhạc, những người học guitar đầu tiên không có giáo trình nào khác ngoài hai cuốn của F. Carulli và M. Carcassi, Carulli có phần được ưa chộng hơn. Rồi họ tiếp tục truyền cho thế hệ sau và quy trình này vẫn tiếp diễn đến tận bây giờ. Hai cuốn giáo trình này đương nhiên hay vì nó tồn tại suốt từ thế kỷ 18 đến giờ không chỉ ở Việt nam. Cuốn giáo trình của F Carulli là cuốn giáo trình đầu tiên trong lịch sử guitar. Từ đó đến nay ngành sư phạm guitar đương nhiên đã thay đổi rất nhiều cùng tiến trình chung của kỹ thuật diễn tấu guitar và ...

LỊCH SỬ CỦA THỂ LOẠI GIAO HƯỞNG

 Tổng quan về giao hưởng Một giao hưởng là gì? Đó là một sáng tác cho khí nhạc có thời lượng dài và hầu hết được viết cho dàn nhạc. Với lịch sử kéo dài hơn 300 năm, ngày nay giao hưởng thường được cho là đỉnh cao của khí nhạc cổ điển. Các tên tuổi Beethoven, Brahms, Mozart, Mahler và Bruckner gần như đồng nghĩa với thể loại này và các tác phẩm họ viết cho giao hưởng không có điểm dừng. Thể loại giao hưởng đã đem đến cho các nhà soạn nhạc vĩ đại này một cấu trúc để sáng tác và vươn xa, và nó cho phép họ giải phóng sự sáng tạo của mình trên thế giới thông qua một số tác phẩm âm nhạc vĩ đại nhất đang hiện hữu. Nguồn gốc của giao hưởng có từ trước thời các nhà soạn nhạc này. Tuy nhiên, các nhà soạn nhạc giao hưởng đầu tiên có ảnh hưởng rất lớn đến các nhà soạn nhạc đã nêu trên. Giao hưởng đầu tiên Những giao hưởng đầu tiên ra đời vào những năm 1730 xung quanh Milan và vùng lân cận vùng Bologna. Trớ trêu thay, giao hưởng này có thể cho thấy phần lớn nguồn gốc của nó dành cho o...

NĂM NHẠC SƯ LÀM THAY ĐỔI DIỆN MẠO CỦA NHẠC CỔ ĐIỂN PHƯƠNG TÂY

Âm nhạc cổ điển phương Tây có một bề dày lịch sử với nhiều thời kỳ khác nhau. Mỗi thời kỳ đều có những nhạc sĩ lớn với đóng góp quan trọng. Họ là những nhà soạn nhạc, nghệ sĩ biểu diễn hay nhà lý luận. Các tác phẩm hay trình độ diễn tấu điêu luyện của họ đã làm thay đổi quan điểm âm nhạc của thính giả cũng như giới chuyên môn. Do đó, nên âm nhạc luôn được làm mới và phát triển không ngừng. Thính giả dễ dàng ghi nhớ tên tuổi những nhà soạn nhạc và nghệ sĩ nhưng ít ai để ý  những người thầy của họ.  Tạp chí âm nhạc BBC đã đề xuất năm người thầy nổi bật nhất lịch sử âm nhạc cổ điển phương Tây. Xin được giới thiệu năm bậc danh sư này cùng các học trò của họ. 1. Simon Sechter (1788-1867) sinh ra ở Friedberg (Frymburk), Bohemia, sau thành một phần của Đế chế Áo. Năm 1804 ông chuyển đến Vienna. Năm 1810, ông bắt đầu dạy piano và hát tại một học viện dành cho học sinh khiếm thị. Năm 1851 Sechter được bổ nhiệm làm giáo sư sáng tác tại Nhạc viện Vienna. S. Sechter có nhiều sinh viên thà...