Niềm tin có thể làm người ta gắn kết người ta thành những cộng đồng, thậm chí đức tin có thể tạo thành cộng đồng chiếm đa số trong xã hội. Nhưng nhận thức là một khao khát quan trọng của con người nên niềm tin có thể thay đổi theo sự thay đổi nhận thức từng cá nhân. Người ta gắn kết với nhau nhờ niềm tin thì cũng có thể bị chia rẽ vì niềm tin đó khi có sự thay đổi. Câu chuyện về Do Thái giáo, Công giáo và Hồi giáo là một ví dụ rất hấp dẫn. Từ 3000 năm trước xuất hiện Do Thái giáo là cộng đồng người cùng tin vào một đấng Thiên Chúa là Giê-hô-va. Đến thế kỷ I xuất hiện Giê-su Chist và một số người trong cộng đồng Do Thái giáo tin rằng Giê-su chính là Đấng Messiah mà Do Thái giáo đang mong đợi. Rồi họ còn có niềm tin Chúa Giê-su là con Thiên Chúa và họ tách ra thành một tôn giáo riêng là Công giáo hay Ki-tô giáo. Khoảng 600 năm sau khi Công giáo ra đời, Thiên sứ Muhammad tại Ả Rập đã nhận được mặc khải của Thiên Chúa Allah và hình thành Hồi giáo. Hồi giáo không tách ra từ Công giáo hay Do Thái giáo mà họ vẫn thừa nhận các vị ngôn sứ của hai giáo phái kia nhưng họ cho rằng thông điệp ban đầu đã bị thay đổi qua thời gian, nên Hồi giáo ra đời để "khôi phục" và "hoàn thiện" đức tin nguyên thủy.
Xin nói riêng về Công giáo vì liên quan trực tiếp đến chủ đề bài viết này. Sau khi trở thành quốc giáo của La Mã vào thế kỷ III, Công giáo đã có những đóng góp quan trọng cho sự hình thành và phát triển nghệ thuật và khoa học. Sau 10 thế kỷ phát triển rực rỡ về mọi mặt, Công giáo bắt đầu bộc lộ những mâu thuẫn nội bộ. Mâu thuẫn lớn nhất là về quyền lực, một nguyên nhân thật dễ hiểu. Năm 1054 diễn ra một sự kiện cực kỳ trọng đại trong lịch sử nhân loại là Cuộc Đại Ly Giáo và Công giáo chia đôi thành Công giáo La Mã ở phía Tây do Giáo hoàng đứng đầu và Chính thống giáo Đông phương ở phía Đông (Hy Lạp, Nga, Đông Âu...). Chính thống giáo tự coi là truyền nhân "chính thống" nhất của Giáo hội thời sơ khai, không công nhận quyền tối thượng của Giáo hoàng.
Vào thế kỷ XVI, Giáo hội Công giáo Roma đã đạt đến đỉnh cao quyền lực. Quyền lực tuyệt đối đã nảy sinh những tiêu cực như bán "thẻ miễn tội"(Indulgences) để gây quỹ xây dựng nhà thờ. Và điều phải đến đã đến. Ngày 31/10/1517, tu sĩ người Đức Martin Luther(1483-1546) dán bản "95 luận đề" lên cửa nhà thờ Wittenberg (Đức) để phản đối việc bán thẻ miễn tội và quyền lực tối thượng của Giáo hoàng. Luther cho rằng con người được cứu rỗi chỉ bằng đức tin vào Thiên Chúa chứ không phải bằng các nghi lễ hay tiền bạc. Nhờ có máy in mới ra đời, Luther dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức rồi xuất bản rộng rãi để mọi người có thể tự đọc và hiểu.
Ở Geneva, giáo sĩ Jean Calvin người Pháp(1509-1564) đã phát triển một hệ thống thần học mới nhấn mạnh vào thuyết "tiền định", trong đó số phận mỗi người đã được Chúa định sẵn. Học thuyết của Calvin nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của giới tư sản đang phát triển và lan rộng mạnh mẽ sang Pháp, Hà Lan, Scotland và Anh. Ở Anh, vua Henry VIII(1491-1547) tuyên bố ly khai khỏi Giáo hội Roma vì lý do chính trị và cá nhân và thành lập Anh giáo(Anglican Church). Dù vẫn giữ nhiều nghi thức của Công giáo, nhưng vua Anh trở thành thủ lĩnh tối cao của Giáo hội thay vì Giáo hoàng.
Các sự phân rã về tư tưởng đã hình thành phong trào Kháng Cách hay Tin Lành (Protestantism) tách biệt hoàn toàn với Công giáo Roma. Giáo phái Tin Lành khuyến khích giáo dân tự đọc Kinh Thánh đã thúc đẩy phong trào xóa mù chữ và đề cao quyền tự do cá nhân. Cải cách tôn giáo cũng gây chia rẽ mạnh mẽ trong đời sống xã hội mà đỉnh điểm là những cuộc chiến tranh tàn khốc và kéo dài do quan điểm tôn giáo khác biệt của giới cầm quyền. Những cuộc chiến đó không những làm xáo trộn bản đồ chính trị mà còn gây ra những cuộc di dân ở các quy mô khác nhau do kỳ thị tôn giáo. Chỉ một sự thay đổi lãnh chúa ở một nơi cũng có thể làm cho một số gia đình ở đó phải rời bỏ quê hương để đến nơi có tôn giáo phù hợp.
Veit Bach(1550-1619) là một thợ làm bánh ở Pozsony, Hungary. Khi đó Hungary là lãnh thổ thuộc quyền của dòng họ Habsburg là những người Công giáo cực đoan đang chịu sức ép từ sự bành trướng của Đế quốc Ottoman. Phong trào Kháng cách lớn mạnh nhanh chóng đã thúc đẩy hình thành phong trào Phản Cải cách của Công giáo nhằm giành lại ảnh hưởng và những người theo tư tưởng của Martin Luther tại Hungary bị đàn áp gắt gao. Là một người theo Tin Lành nhiệt thành, Veit Bach đã quyết định rời bỏ quê hương để tìm miền đất hứa cho mình. Ông đi về phía bắc nước Đức nơi đã chấp nhận Kháng cách rồi dừng chân ở Wechmar, một ngôi làng nhỏ ở xứ Thuringia. Tại đây, ông tiếp tục nghề làm bánh và xay xát. Trong hành trang của Veit đến quê hương mới có một cây đàn Cithara (một loại đàn dây cổ) vì ông là người yêu âm nhạc. Về sau, hậu duệ đời thứ tư Johann Sebastian Bach đã kể về cụ tổ của mình rằng:"Veit Bach thường đem cây đàn vào trong cối xay gió và chơi đàn trong khi máy đang chạy. Tiếng đàn hòa cùng tiếng rầm rập của cối xay hẳn là cách cụ luyện tiết tấu." Hai con lớn của Veit là Johannes và Lips đều là nhạc sĩ, và Johannes học bài bản hơn và được bổ nhiệm là nhạc sĩ thị trấn Stadtpfeifer ở Wechmar.
Các con cháu họ nối tiếp nhau làm nhạc sĩ. Trong suốt hai thế kỷ XVI-XVIII dòng họ Bach đã cung cấp cho nước Đức hàng trăm nhạc sĩ, trong đó có 80 nhạc sĩ được ghi nhận về hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp. Nổi bật hơn cả ai cũng biết đó là Johann Sebastian Bach(1685-1750). Nhạc sĩ mang họ Bach phổ biến đến nỗi có người dùng từ Bach với nghĩa là nhạc sĩ. Một bá tước cần tuyển thêm nhạc sĩ cho dàn nhạc của mình đã viết thư cho cấp dưới:“Chúng ta cần tuyển thêm một Bach nữa.”
Rõ ràng, số phận đã đem lại cho người Đức một gia tài âm nhạc khổng lồ không nơi nào khác so được.
3/3/2026
Trịnh Minh Cường
Nhận xét
Đăng nhận xét